Thần Khúc (Lục Thần Khúc, Lục Đình Khúc) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi

72
Thần Khúc
Thần Khúc
Đánh giá

Những cây thuốc và vị thuốc Việt NamĐỗ Tất Lợi

Thần Khúc trang 358-360 tải bản PDF tại đây.

Còn gọi là Lục Thần Khúc, Lục Đình Khúc, Kiến Thần Khúc.

Tên khoa học Massa medicata fermentata.

Thần khúc là một vị thuốc rất phổ cập để chữa bốn mùa cảm mạo, ăn uống không tiêu v.v…

Nhưng thần khúc không phải do một cây thuốc nào cung cấp mà gồm nhiều vị thuốc phối hợp với bột mì hoặc bột gạo tạo nên một môi trường đặc biệt gây mốc rồi phơi khô

Vì lúc đầu thần khúc chỉ gồm có 6 vị thuốc phối hợp với nhau, ủ cho lên mốc vào những ngày tháng 5, ngày 6 tháng 6 hoặc trước ngày 20 tháng (âm lịch), những ngày này theo mê tín cũ là những ngày các thần hội họp với nhau do đó thành tế (lục=sáu, thần=ông thần).

Nguồn gốc thần khúc ở tỉnh Phúc Kiến (Trun Quốc) vì vậy còn có tên kiến thần khúc (thần khúc của Phúc Kiến)

Nguồn gốc và chế biến

Qua 400-500 năm lịch sử từ khi thần khúc được ghi trong các sách cổ đến nay công thức và cách chế biến có nhiều thay đổi, chúng ta cần chú ý thay đổi cho thích hợp.

Hiện nay ngay tại Trung Quốc cũng chưa thống nhất đơn. Do cách chế biến khác nhau, có thể đưa đến kết quả điều trị khác nhau.

Thần Khúc
Thần Khúc

Có mấy điểm cần chú ý.

– Số vị thuốc dùng để chế thần khúc lúc đầu chỉ có 4-6 vị, dần dần tăng lên 30-50 vị thuốc. Phần nhiều là những vị thuốc có tinh dầu

Các vị thuốc ấy phối hợp với bột mì, hay bột lúa mạch, cầm, ủ cho lên mốc, cuối cùng phơi khô.

– Thời gian chế thuốc tốt nhất là mùa mực, từ ngày 5 tháng 5 đến 20 tháng 7 âm lịch (khí hậu Trung Quốc).

Lúc đầu thần khúc chỉ là một loại men để chế rượu, về sau mới dùng làm thuốc.

Công thức đầu tiên về thần khúc (ghi trong Tề dân yếu thuật)

Lúa mạch 100 lít: 60 lít sao lên, 30 lít nấu chín, 10 lít để sống. Sau đó đem tán thành bột.

Công thức đầu tiên về thần khúc (ghi trong Tề dân yếu thuật)

Lúa mạch 100 lít: 60 lít sao lên, 30 lít nấu chín, 10 lít để sống. Sau đó đem tán thành bột.

Dùng đơn thuốc sau đây: 

  • Lá dâu 5 phần
  • Cây ké đầu ngựa 1 phần
  • Cây ngải cứu 1 phần
  • Ngô thù du hoặc cây nghề 1 phần

Các vị này nấu đặc, vắt lọc lấy nước trộn với bột lúa mạch cho đều nắm thành bánh hay ép thành khuôn. Công việc tiến hành từ đầu tháng 7 đến 20 tháng 7 âm lịch là muộn nhất.

Công thức ghi trong “Bản thảo cương mục’ (cân lạng do chúng tôi tính lại theo cân lạng mới): Bột mì 60kg, thanh cao ép lấy nước 3 lít, bột xích tiểu đậu, hạnh nhân giã nát, mỗi vị 3 lít, nước ép cây thương nhĩ và cây nghệ, mỗi thứ 3 lít. Những nước này trộn đều với bột mì rồi ủ kín cho lên mốc, đến khi mốc vàng đem ra phơi.

– Những công thức thần khác hiện nay càng ngày càng phức tạp.

a) Thần khúc các quốc doanh dược liệu Việt Nam đang sản xuất và lưu hành ở thị trường gồm 22 vị thuốc tán bột, trộn với hồ nếp rồi đóng bánh 40g một, phơi khô ngay không cho lên mốc.

Cân lượng các vị thuốc như sau: Thanh hao 1.000g, hương nhu 1.000g, hương phụ 1.000g. thương nhĩ thảo 1.000g, sơn tra 1.000g, ô dược 1.000g, thiên niên kiện 800g, quế 800g, hậu phác 800g, trần bì 800g, bán hạ chế 700g, bạc hà, sa nhân, bạch đàn hương, tô diệp, kinh giới, thảo đậu khấu mỗi vị 600g, mạch nha, địa liền mỗi vị 200g.

b) Thần khúc của xưởng quốc doanh tỉnh Phúc Kiến Trung Quốc, chế theo đơn gia truyền của một gia đình làm thuốc chuyên chế thần khúc từ năm 1741, gồm tới 52 vị thuốc khác nhau, tán bột đồng thành bánh 40g một, ủ cho lên mốc rồi mới phơi khô.

Thành phần hóa học

Do công thức biến chế không thống nhất cho nên thành phần hóa học rất thay đổi.

Theo Diệp Quyết Tuyền, có tác giả đã nghiên cứu thấy một loại thần khúc có các tinh dầu, glucozit, chất béo và men lipase.

Công dụng và liều dùng

Thần khúc là một vị thuốc nhân dân. Sách cổ ghi về thần khúc như sau: Vị cay, ngọt, tính ổn, vào hai kinh tỳ và vị. Có tác dụng tiêu thực, hành khí, kiện tỳ, dưỡng vị, dùng chữa các bệnh cảm mạo trong bốn mùa, cảm lạnh, cảm nắng, ăn uống không tiêu, miệng nôn, đi ỉa lỏng, ly, làm lợi sữa.

Ngày dùng 9-18g, có thể tới 40g dưới hình thức thuốc sắc hoặc thuốc bột, có khi sao lên mới dùng. Có khi được kê lẫn với các vị thuốc khác coi thần khúc như là một vị thuốc.

Đơn thuốc có thần khúc

  1. Thần khúc, thương truật, trần bì, hậu phác, mạch nha mỗi vị 14g. Các vị tán nhỏ. Ngày 3-6g chia làm 2 hoặc 3 lần uống (đơn thuốc của I Quyết Tuyến). Chữa ăn uống không tiêu, bụng đầy, đi lỵ.
  2. Sơn tra, mạch nha, thần khúc, mỗi vị 4g. với nước chia 3 lần uống trong ngày, chữa bệnh, uống không tiêu, đau bụng, nôn mửa (đơn thuốc kinh nghiệm nhân dân).
Ngày viết:
Giáo sư – Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi sinh ngày 2 tháng 1 năm 1919 tại xã Phú Minh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội và mất ngày 3 tháng 2 năm 2008. Ông là một nhà nghiên cứu dược học nổi tiếng và là “cây đại thụ” của nền y học cổ truyền Việt Nam.
LEAVE A REPLY
Please enter your comment!