Khinh Phấn (Thủy Ngân Phấn) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi

101
Khinh Phấn
Khinh Phấn
Đánh giá

Những cây thuốc và vị thuốc Việt NamĐỗ Tất Lợi

Khinh Phấn trang 1040 – 1041 tải bản PDF tại đây.

Còn gọi là thủy ngân phấn, hồng phấn, cam phấn.

Tên khoa học Calomelas.

Khinh phấn là muối thủy ngân clorua (HgCl2) chế bằng phương pháp thăng hoa.

Nguồn gốc và chế biến

Từ thời cổ người ta đã biết chế khinh phấn theo phương pháp sau đây. Trước hết cần 2,100kg đảm phàn (đồng sunfat CuSO45H2O); 1,800kg muối ăn (NaCl) và chừng 1,800kg nước trộn đều, sau đó thêm 3,750kg thủy ngân, trộn đều như cháo và chừng 10 bát đất đỏ, trộn đều một lần nữa thành một khối vừa khô vừa ẩm, chia thành 10 phần, nặn thành 10 cục hình đầu. Lấy 10 nổi bằng đáy, trong mỗi nồi xếp một lớp cát và đặt các cục nặn hình đầu kể trên vào. Đậy vung và dùng đất mềm trát thật kín.

Trước hết đặt những nồi ở cạnh 10 lò đun. Sau đó dùng than củi đốt lò, khi than đã đỏ và chảy đều nhưng không có ngọn lửa, cho các nổi trên vào, vùi kín lại và hầm trong vòng 22 giờ, lấy ra, mở nồi sẽ thấy những tinh thể khinh phấn bám quanh nổi, dùng lông gà quét lấy.

Hiện nay người ta chế khinh phấn bằng cách tác dụng thủy ngân sunfat HgSO4 trên thủy ngân và muối ăn hoặc thủy ngân nitrat Hg(NO3)2 trên muối ăn (xem các sách về hóa dược vô cơ).

Thành phần hóa học

Thành phần chủ yếu của khinh phấn là thủy ngân clorua.

Khinh Phấn
Khinh Phấn

Công dụng và liều dùng

Khinh phấn được dùng trong cả tây y và đông y.

Tính chất theo đông y như sau: Vị cay, tính lạnh, không có độc, có khả năng trừ được tích trệ và nhiệt kết trong ruột và dạ dày, có thể chữa được các chứng thủy thũng phong đàm, thấp nhiệt. Tuy nhiên có tác giả cho rằng khinh phấn dùng nhiều có độc, nếu dùng nhiều quá gân cơ, xương nhức, răng lung lay, khi không có thuốc khác mới nên dùng. Nhận xét này phù hợp với thực tế khoa học hiện nay hơn.

Tây y coi khinh phấn là một vị thuốc trừ giun, làm đi ngoài, lợi tiểu, thông mật, dùng dưới hình thức bột hay viên. Liều thay đổi tùy theo mục đích điều trị; để làm thuốc tẩy dùng liều 0,25 đến 0.50g chia làm nhiều lần uống trong ngày, mỗi lần uống 0,05g; để làm thuốc thông mật; ngày uống 0,01 đến 0,02g; để làm thuốc sát trùng ruột (liều dùng như thông mật); để tẩy giun (mỗi tuổi 0,02-0,03g). Tây y xếp khinh phấn vào loại thuốc nguy hiểm.

Đơn thuốc có khinh phấn

Trẻ con chốc đầu: Khinh phấn hòa với nước hành bởi lên nơi chốc đã rửa sạch.

Ngày viết:
Giáo sư – Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi sinh ngày 2 tháng 1 năm 1919 tại xã Phú Minh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội và mất ngày 3 tháng 2 năm 2008. Ông là một nhà nghiên cứu dược học nổi tiếng và là “cây đại thụ” của nền y học cổ truyền Việt Nam.
LEAVE A REPLY
Please enter your comment!