Tiền Hồ – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi

104
Tiền Hồ
Tiền Hồ
Đánh giá

Những cây thuốc và vị thuốc Việt NamĐỗ Tất Lợi

Tiền Hồ trang 667-668 tải bản PDF tại đây.

Còn gọi là quy nam (Lạng Sơn), tử hoa tiền hồ (Trung Quốc), thổ dương quy, sạ hương thái.

Tên khoa học Peucedanum decursivum Maxim, Angelica decursiva Franch et Savat.

Thuộc họ Hoa tán Umelliferae.

Tiền hồ (Radix Peucedani decursivi) là rễ phơi hay sấy khô của cây tiền hồ hay cây quy nam.

Mô tả cây

Cây thuộc thảo, cao 0,7-1,4m, mọc thẳng đứng, trên có phân nhánh trên thân có khía dọc. Lá ở gốc cây lớn, 1-2 lần xẻ lông chim, cuống dài 14-30cm, phiến lá chia thành thuỳ hình bầu dục có răng cưa to. Lá ở thân nhỏ, cuống ngắn có bẹ lá phỏng và rộng. Lá ở phía không cuống hay thu lại còn bẹ lá. Cụm hoa tán kép. Hoa màu tím. Quả hình bầu dục, cụt ở hai đầu, 5-7mm, rộng 3-5mm. Phân liệt quả, có múi ở cạnh, khi chưa chín 2 phân liệt quả dính chặt vào nhau. Khi chín phân liệt quả nở tung ta, có dìa rộng và hơi dày.

Tiền Hồ
Tiền Hồ

Phân bố, thu hái và chế biến

Hiện nay mới phát hiện thấy có nhiều ở Đông Đăng (Lạng Sơn). Ở đây người ta thu mua với tên Quy nam. Có người lại gọi nhầm nó là đọc hoạt hay khương hoạt.

Thực ra độc hoạt và khương hoạt là rễ những cây khác.

Vào mùa thu, đông hay mùa xuân, đào lấy rễ về, rửa sạch đất, phơi hay sấy khô là được.

Tại Trung Quốc, tiền hồ mọc ở Thiểm Tây, Quảng Châu, Hàng Châu, An Huy, Thiểm Tây, Hàng Châu được coi là nơi tiền hồ tốt nhất. Tại Trung Quốc, còn khai thác rễ một cây khác gọi là bạch hoa tiền hồ (tiền hồ hoa trắng) Peucedanum praeruptorum Dunn cùng họ Hoa tán. Cây này có hoa trắng và chưa thấy ở Việt Nam, cũng thấy ở Thiểm Tây, Quảng Tây, Phúc Kiến, An Huy, Trung Quốc.

Thành phần hoá học

Trong tiền hồ, người ta phân tích thấy có chất glucozit gọi là nodakenin có công thức C20H24O9, tinh dáu, tanin, spongosterola.

Chất nodakenin, khi thuỷ phân sẽ cho nodakenitin hay nodagenin C14H24O9 và glucoza.

Nodakenin có độ chảy 215°C, tan trong nước lạnh, cồn, axit axetic, không tan trong ete, đấu hoả, benzen.

Nodakentin có độ chảy 185°C.

Tác dụng dược lý

Theo Cao ứng Đẩu và Chu Thọ Bình (1954, Trung Hoa y học tạp chí, 5) thí nghiệm trên mèo gây mê thì tiền hồ có tác dụng trừ đờm.

Nhưng Hoàng Khánh Chương (1954, Trung Hoa y học tạp chí, II) gay ho cho mèo bằng cách tiêm dung dịch 1% ist vào dưới sườn, sau đó cho uống nước sắc tiến hồ 0,8-2g cho 1kg thể trọng, thì không thấy có tác dụng trừ họ rõ rệt.

Công dụng và liều dùng

Theo tài liệu cổ tiền hồ có vị đắng, cay, tính hơi hàn, vào hai kinh phế và tỳ. Có tác dụng tuyến tán phong nhiệt, hạ khí chỉ họ, tiêu đờm. Dùng chữa phong nhiệt sinh ho, đờm đặc, xuyễn tức. Không thực nhiệt, ngoại cảm không dùng được.

Thường tiến hồ là một vị thuốc chữa ho, trừ đờm. Ngoài ra còn là một vị thuốc chữa sốt, giảm đau dùng trong trường hợp cảm mạo, sốt nóng. đầu nhức.

Liều dùng 9-15g dưới dạng thuốc sắc chia làm 2-3 lần uống trong ngày.

Đơn thuốc có tiền hồ

Chữa viêm khí quản, đờm không tiết ra được:

Tiền hồ 10g, tang bạch bì 10g, đào nhân 10g. khoản động hoa 8g, bởi mẫu 10g, cất cánh 5g, cam thảo 3g, nước 600ml. Sắc còn 200m1, chia 3 lần uống trong ngày. (Đơn thuốc kinh nghiệm của Diệp Quyết Tuyến).

Ngày viết:
Giáo sư – Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi sinh ngày 2 tháng 1 năm 1919 tại xã Phú Minh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội và mất ngày 3 tháng 2 năm 2008. Ông là một nhà nghiên cứu dược học nổi tiếng và là “cây đại thụ” của nền y học cổ truyền Việt Nam.
LEAVE A REPLY
Please enter your comment!