Thổ Cao Ly Tâm – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi

75
Thổ Cao Ly Tâm
Thổ Cao Ly Tâm
Đánh giá

Những cây thuốc và vị thuốc Việt NamĐỗ Tất Lợi

Thổ Cao Ly Tâm trang 815 – 816 tải bản PDF tại đây.

Còn gọi là sâm, đông dương sâm, cao ly sâm, sâm thảo, giả nhân sâm, thổ nhân sâm

Tên khoa học Talinum crassifolium Willd. (Talinum patens L., Talinum paniculatum Gaertn.)

Thuộc họ Rau sam Portulacaceae.

Nhiều người vẫn nhấm cây này gọi là cây nhân sâm, cần chú ý để phân biệt (xem vị nhân sâm thật ở trên).

Mô tả cây

Cây loại cỏ mọc hàng năm hoặc sống đai, thân mọc thẳng, có thể cao tới 0,6m, thân màu xanh, phía dưới chia cành. Lá mọc so le, hình trứng ngược, hoặc hình thừa, phiến lá dày, hơi mẫm, hai mặt đều bóng, đầu lá nhọn hoặc tù, phía cuống hẹp lại, cuống rất ngắn, lá dài 5-7cm, rộng 2,5- 3,5cm. Vào mùa hạ ở đầu cành xuất hiện cụm hoa hình chùm nhiều hoa nhỏ, đường kính ước 6mm, 5 cánh hoa màu tím đỏ nhạt, hơn 10 nhị dài ước 2mm. Bầu hoa hình cầu. Quả nhỏ, khi chín có màu xám tro, đường kính ước 3mm. Hạt rất nhỏ, màu đen nhánh hơi dẹt, trên mặt hơi có văn nổi.

Mùa hoa tháng 6-7-8. Mùa quả: tháng 9-10- 11.

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây thổ cao ly sâm mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi trong nước ta vì nhiều người nhầm là cây nhân sâm. Sự thực hai cây khác hẳn nhau về hình thái cũng như về họ thực vật (xem vị nhân sâm ở trên).

Có điều đáng chú ý là một số tỉnh ở Trung Quốc như Triết Giang, Giang Tô, An Huy, Quảng Tây, Quảng Đông. Tứ Xuyên là nơi cây này cũng mọc hoang và được trồng làm cảnh, người ta cũng gọi cây này với những tên cao ly sản, thổ cao ly sâm v.v… và cũng dùng nó làm thuốc bổ thay sâm.

Trồng cây này rất dễ dàng: Có thể trồng bằng hạt hoặc bằng mẫu rè. Cây mọc rất khoẻ, sau một năm đã thu hoạch lấy rẻ, để lâu năm được vẽ to hơn. Rễ đào về rửa sạch cắt bỏ rễ con, phơi hay sấy khô. Rễ lúc mới đào về có màu hồng đẹp. Để lâu đen xám.

Thổ Cao Ly Tâm
Thổ Cao Ly Tâm

Thành phần hoá học

Chưa có tài liệu nghiên cứu

Sơ bộ nghiên cứu, chúng tôi thấy trong rễ cây này có dẫn xuất phenolic (Đỗ Tất Lợi, 1960), Các chất khác chưa rõ .

Tác dụng dược lý 

Chưa có tài liệu nghiên cứu 

Công dụng và liều dùng

Còn ở phạm vi kinh nghiệm trong nhân dân.

Tại Việt Nam và Trung Quốc nhiều nơi dùng rẻ làm thuốc bổ, thuốc chữa họ dưới dạng thuốc sắc.

Có khi người ta dùng rễ cạo sạch vỏ, hoặc dùng lá nấu với thịt để ăn như nấu canh rau.

Ngày dùng 20-30g.

Cần chú ý nghiên cứu.

Ngày viết:
Giáo sư – Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi sinh ngày 2 tháng 1 năm 1919 tại xã Phú Minh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội và mất ngày 3 tháng 2 năm 2008. Ông là một nhà nghiên cứu dược học nổi tiếng và là “cây đại thụ” của nền y học cổ truyền Việt Nam.
LEAVE A REPLY
Please enter your comment!