PHÒNG NGỪA HẠ THÂN NHIỆT CHU PHẪU: KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI KHOA GÂY MÊ – HỒI SỨC

22
Đánh giá

PHÒNG NGỪA HẠ THÂN NHIỆT CHU PHẪU: KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI KHOA GÂY MÊ – HỒI SỨC

Cao Thị Hoài Thu1,2, Lê Viết Thắng2,3,, Nguyễn Hưng Hòa1, Nguyễn Văn Chung2, Huỳnh Thị Thanh Hương2, Lê Thị Huyền Trang2, Lê Thị Kim Đơn2

1 Trường Điều Dưỡng – Kỹ thuật Y học, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
2 Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
3 Trường Y, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ và tìm yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành của điều dưỡng về phòng ngừa hạ thân nhiệt trong giai đoạn chu phẫu. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 200 điều dưỡng khoa Gây mê – Hồi sức, Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh từ tháng 10/2024 đến tháng 06/2025. Nghiên cứu tiến hành 2 giai đoạn: Giai đoạn 1: Chuẩn hóa bộ công cụ bằng cách tiến hành nghiên cứu thử nghiệm với nhóm 30 mẫu”. Giai đoạn 2: Tiến hành nghiên cứu chính thức. Bảng câu hỏi khảo sát kiến thức và thực hành của điều dưỡng về phòng ngừa hạ thân nhiệt chu phẫu gồm yếu tố nhân khẩu học, 27 câu về kiến thức và 14 câu về thực hành. Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm Stata 17.0. Kết quả: Tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức tốt là 53,5% (107/200), tỷ lệ có thực hành tốt là 60,0% (120/200). Điều dưỡng có kiến thức tốt có khả năng thực hành tốt cao hơn 1,67 lần (p < 0,001) so với nhóm còn lại. Các yếu tố liên quan đến kiến thức bao gồm: Vị trí công tác: OR = 2,40 (KTC 95%: 1,05 – 5,46; p = 0,038). Được hướng dẫn về phòng ngừa hạ thân nhiệt trước phẫu thuật: OR = 5,11 (KTC 95%: 1,90 – 13,72; p = 0,001). Thiết bị máy sưởi/làm ấm không khí: OR = 2,86 (KTC 95%: 1,08 – 7,57; p = 0,035). Yếu tố nguy cơ độc lập liên quan đến kiến thức chưa tốt là chưa có hướng dẫn về phòng ngừa hạ thân nhiệt tại nơi làm việc: OR = 0,23 (KTC 95%: 0,11 – 0,49; p < 0,001). Yếu tố liên quan đến thực hành tốt là được hướng dẫn về phòng ngừa hạ thân nhiệt tại nơi làm việc trước phẫu thuật: OR = 11,03 (KTC 95%: 3,88 – 31,30; p < 0,001). Yếu tố nguy cơ độc lập liên quan đến thực hành chưa tốt là thiếu hướng dẫn về phòng ngừa hạ thân nhiệt tại nơi làm việc: OR = 0,115 (KTC 95%: 0,05 – 0,26; p < 0,001). Kết luận: Tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức đúng phòng ngừa hạ thân nhiệt chu phẫu là 53,5%. Mức độ kiến thức còn chênh lệch giữa các khu vực làm việc (tiền phẫu, phòng phẫu thuật, hậu phẫu). Tỷ lệ điều dưỡng thực hành đúng về phòng ngừa hạ thân nhiệt chu phẫu là 60%. Yếu tố “thiếu hướng dẫn phát hiện hạ thân nhiệt chu phẫu” ảnh hưởng đến cả kiến thức và thực hành chưa tốt của điều dưỡng.

Tài liệu tham khảo

1. Osilla EV, Marsidi JL, Shumway KR, et al. (2020), Physiology, Temperature Regulation, StatPearls Publishing. Truy cập ngày 26/5/2025, tại: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/sites/books/ NBK507838/.
2. National Institute for Health and Care Excellence (NICE). (2016), Hypothermia: prevention and management in adults having surgery. Truy cập ngày 24/6/2025, tại: https://www.nice.org.uk/guidance/cg65/resources/hypothermia-prevention-and-management-in-adults-having-surgery-pdf-975569636293.
3. Senol T, Yildiz T. (2019), “Effects of a training programme on the awareness of inadvertent perioperative hypothermia among surgical nurses”, Current Health Studies.
4. Woretaw AW, Yimer Mekonnen B, Tsegaye N, et al. (2023), “Knowledge and practice of nurses with respect to perioperative hypothermia prevention in the Northwest Amhara Regional State Referral Hospitals, Ethiopia: a cross-sectional study”, BMJ Open, 13(12): e068131.
5. Cohen S, Hayes JS, Tordella T, et al. (2002), “Thermal efficiency of prewarmed cotton, reflective, and forced–warm-air inflatable blankets in trauma patients”, International Journal of Trauma Nursing, 8(1): 4–8.
6. Cheshire WP. (2016), “Thermoregulatory disorders and illness related to heat and cold stress”, Autonomic Neuroscience, 196: 91–104.

LEAVE A REPLY
Please enter your comment!