PHÂN LOẠI VÀ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT KẾT HỢP XƯƠNG BẰNG NẸP VÍT NHỎ Ở BỆNH NHÂN GÃY XƯƠNG HÀM DƯỚI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA BẠC LIÊU
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Gãy xương hàm dưới là chấn thương hàm mặt thường gặp, chủ yếu do tai nạn giao thông, cần điều trị đảm bảo cả chức năng và thẩm mỹ. Phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp vít nhỏ hiện được ứng dụng phổ biến nhờ khả năng cố định vững chắc và hiệu quả phục hồi tốt. Mục tiêu: Nghiên cứu hiện tại nhằm mô tả đặc điểm phân loại và kết quả điều trị gãy xương hàm dưới bằng nẹp vít nhỏ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành khảo sát 40 bệnh nhân được chẩn đoán gãy xương hàm dưới và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Bạc Liêu từ tháng 3 năm 2024 đến tháng 3 năm 2025. Kết quả: Tổng cộng 40 trường hợp gãy xương hàm dưới, tuổi trung bình là 31,6 ± 14,9 và nam giới chiếm ưu thế (70,0%). Gãy đơn giản tại một vị trí chiếm tỷ lệ cao nhất (57,5%), phổ biến nhất là vùng cằm (35,0%), trong khi các dạng gãy phức tạp thường gặp là phối hợp cằm – góc hàm (17,5%). Sau điều trị, tình trạng nhiễm khuẩn và sai khớp cắn được kiểm soát hoàn toàn (95,0-100%), độ há miệng cải thiện rõ (từ 45,0% lên 95,0%, p < 0,001) sau 12 tuần. Tỷ lệ kết quả điều trị chung đạt mức “tốt” là 95,0%, trong đó đánh giá tốt về giải phẫu, chức năng và thẩm mỹ đạt lần lượt 97,5%, 95,0% và 95,0%. Nhóm gãy đơn giản có xu hướng kết quả tốt cao hơn, mặc dù khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê. Kết luận: Phẫu thuật điều trị gãy xương hàm dưới bằng nẹp vít nhỏ chứng tỏ hiệu quả cao, áp dụng hiệu quả trong thực hành lâm sàng. Phương pháp này an toàn, ít biến chứng, tỷ lệ phục hồi tốt trên cả ba phương diện giải phẫu, chức năng và thẩm mỹ, đặc biệt ở nhóm gãy đơn giản.
Từ khóa
Gãy xương hàm dưới, phân loại, kết quả phẫu thuật, nẹp vít nhỏ
Tài liệu tham khảo
2. Trần Kiều Hoa, Lâm Nhựt Tân, Tô Tuấn Dân, Trần Minh Triết, Trần Linh Nam, Bùi Trần Hoàng Huy. Đặc điểm gãy xương hàm dưới ở một số bệnh nhân tại thành phố Cần Thơ, năm 2023-2024. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024;539(1B):70-74.
3. Trương Việt Hưng, Phạm Văn Lình, Lê Nguyên Lâm. Đặc điểm lâm sàng, X quang và kết quả phẫu thuật điều trị gãy thân xương hàm dưới bằng nẹp vít nhỏ tại Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Long, năm 2020-2021. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ. 2021;41:1-8.
4. Trần Minh Triết, Trương Nhựt Khuê. Đánh giá kết quả gãy phức tạp xương hàm dưới vùng cằm bằng nẹp vít nhỏ tại bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ. 2018;16:1-6.
5. Thossakun Yomthasombath, Lê Ngọc Tuyến, Đặng Triệu Hùng, Nguyễn Đức Hoàng, Bùi Trung Kiên. Kết quả phẫu thuật kết hợp xương gãy cành ngang hàm dưới bằng nẹp vít tại bệnh viện răng hàm mặt trung ương Hà Nội năm 2022-2023. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024;534(1):117-120.
6. Al-Moraissi EA, Ellis E 3rd. Surgical treatment of adult mandibular condylar fractures provides better outcomes than closed treatment: a systematic review and meta-analysis. J Oral Maxillofac Surg. 2015;73(3):482-493.
7. Chrcanovic BR. Open versus closed reduction: comminuted mandibular fractures. Oral Maxillofac Surg. 2013;17(2):95-104.
8. Ergun S, Ofluoğlu D, Saruhanoğlu A, et al. Comparative evaluation of various miniplate systems for the repair of mandibular corpus fractures. Dent Mater J. 2014;33(3):368-372.
9. Naeem A, Gemal H, Reed D. Imaging in traumatic mandibular fractures. Quant Imaging Med Surg. 2017 Aug;7(4):469-479.
10. Samieirad S, Aboutorabzade MR, Tohidi E, et al. Maxillofacial fracture epidemiology and treatment plans in the Northeast of Iran: A retrospective study. Med Oral Patol Oral Cir Bucal. 2017;22(5):616-624.































