Tác phẩm nổi tiếng và câu chuyện về đại danh y, thiền sư Tuệ Tĩnh

310
Thiền sư Tuệ Tĩnh
Thiền sư Tuệ Tĩnh
Đánh giá

Tiểu sử

Tuệ Tĩnh tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh, tự Linh Đàm, hiệu Tráng Tử Vô Dật, Hồng Nghĩa, quán tại hương Xưa, tổng Văn Thai, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng (nay là thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương). Ông sinh năm 1623 hoặc 1633, mất năm 1713.

Ông là một vị danh sư và cũng là người đầu tiên dạy nghề thuốc ở nước ta, sinh sống vào khoảng cuối đời nhà Đinh và đời nhà tiền Lê.

Khi chưa xuất gia, Tuệ Tĩnh nổi tiếng là người thông minh, trí tuệ. Đã có lần vua Đinh Tiên Hoàng mới ông ra làm quan, nhưng ông khước từ. Sau thấy vua quyết bắt ép, ông liền trốn vào chùa Hồng Vân ở phủ Đa Phúc, tỉnh Phúc Yên. Nhưng không bao lâu bị bại lộ, ông phải lánh sang Tàu, tu tại chùa Vạn Phúc. Nơi đây ông được vị danh y về nha khoa là Vương quan Thanh truyền cho nghề chữa thuốc. Sau hơn 10 năm học hành, ông được họ Vương tận tình chỉ bảo, sau đó ông xin trở về nước.

Tại chùa Hồng Vân, ông đã cứu chữa cho nhiều người bệnh. Ông còn truyền nghề thuốc lại cho một số môn đệ. Ông là người đã chữa lành bệnh răng cho vua Lê Trang Tôn

Khi sư Tuệ Tinh viên tịch, vua Lê truyền lập đền thờ. Ông đã truyền lại tập sách y học tên là Nam dược ghi chép những điều nghiên cứu về dược tính của nhiều thứ thuốc Nam.

Sự nghiệp và tác phẩm nổi tiếng của Tuệ Tĩnh

Tác phẩm nổi tiếng của Tuệ Tĩnh phải kể đến là Nam dược thần hiệu và Hồng Nghĩa giác tư y thư. Tuệ Tĩnh là người thầy thuốc Việt Nam đầu tiên dương cao ngọn cờ “Thuốc Việt Nam chữa người Việt Nam”: Hai bài thuốc nam mà Tuệ Tĩnh là tác giả trong bộ sách “Hồng nghĩa giác tư y thư” (HNGTYT) với những câu mở đầu:

“Tôi tiên sư kính đạo tiên sư
Thuốc Nam Việt chữa người Nam Việt”

Tôi ở đây có nghĩa là đầy tớ, học trò của thầy (tiên sư).

Hoặc câu:

“Thiên thư riêng định cõi Nam
Thổ sản khác nhiều xứ Bắc…”

đây có thể coi như bản tuyên ngôn về thuốc Việt Nam ta.

Tuệ Tĩnh là một vị sư và là một thầy thuốc rất gần gũi quần chúng cho nên hầu hết tài liệu ông biên soạn đều bằng chữ nôm và được viết theo thể văn vần thơ phú cho nên người đọc dễ nhớ, dễ thuộc. Do đó ngay khi Tuệ Tĩnh còn sống, những tài liệu do Tuệ Tình viết ra đã được in đi, in lại nhiều lần: “Sách viết xong, khắc thành bản in, để ở chùa Hộ xá, huyện Giao Thuỷ, người địa phương biết được đường hướng chữa bệnh, lưu truyền đến nay tiếng tăm vang lừng khắp nước” (Trích từ HNGTYT in năm 1717).

Năm 1717 (tức Năm Vĩnh Thịnh thứ 13) có thể coi là năm vinh quang đối với Tuệ Tĩnh. Vào “mùa xuân năm Đinh dậu (1717), nhà sách Liễu Tràng đem bản sách (của Tuệ Tĩnh) dâng lên vua.” Cũng trong năm 1717 bia chùa Giám được sư Như Ứng (học trò của Tuệ Tĩnh) đã dựng bia ghi công Tuệ Tĩnh đã có công đắp tượng phật 24 tay, nhưng chưa kịp dựng bia thì Tuệ Tĩnh đã mất vào năm Quý Tỵ (1713).

Cuốn “Nam Dược Thần Hiệu” và ” Hồng Nghĩa Giác Tự Y Thư”
Cuốn “Nam Dược Thần Hiệu” và ” Hồng Nghĩa Giác Tự Y Thư”

Đền, chùa thờ đại danh y Tuệ Tĩnh

Trong lúc Tuệ Tĩnh còn đang sống, ảnh hưởng và uy tín của ông đã rất rộng lớn. Khi Tuệ Tĩnh mất, chỉ trong một vùng bán kính chưa đầy 3km có tới 4 nơi thờ:

Chùa Giám

Tức là chùa Yên Trang hay An Trang hay Hải Triều là nơi Tuệ Tĩnh tu vào cuối đời và mất năm Quý tỵ (1713). Có bức tượng Tuệ Tĩnh tạc năm 1936 – 1939 (theo lương y Thái Văn Liễn trong thời gian này làm việc tại Trường Viễn đông Bác cổ Hà Nội).

Chùa Giám
Chùa Giám

Đền thánh thuốc nam

Đặt trong làng Nghĩa Phú, quê hương của Tuệ Tĩnh.

Đền bia

Đặt giữa hai làng Nghĩa Phú và Văn Thai

Đền bia
Đền bia

Đền trung

Đặt ở chân đê làng Văn Thai.

Lý giải một số tranh cãi, truyền thuyết về năm sinh năm mất của Tuệ Tĩnh

Truyền thuyết về Tuệ Tĩnh bắt đầu xuất hiện vào năm 1846, sau khi ông đã mất được hơn 130 năm.

Thiền sư Tuệ Tĩnh, tác giả Nam dược thần hiệu và Hồng nghĩa giác tư y thư, theo ý kiến truyền thống, là danh y sống vào thế kỷ 14 đời Trần. Nhưng đã có một số ý kiến cho rằng nhà sư này sống vào cuối thế kỷ 17.

Chứng cứ đưa ra bao gồm nhiều mặt: Phân tích những bài Phú Nôm trong các sách của ông có nhiều yếu tố muộn; trong các bài thuốc mà ông nêu lên chứng tỏ chịu ảnh hưởng của các danh y Trung Quốc đời sau, chẳng hạn, Lý Thời Trân.

Trong những chứng cứ đưa ra, có người đã viện dẫn tấm bia năm Vĩnh Thịnh thứ 13 (1717) ở chùa Giám, nơi quê hương của Tuệ Tĩnh và cho rằng đến năm này, Tuệ Tĩnh vẫn còn sống ở đây.

Để làm sáng tỏ những vấn đề thời đại sống của Tuệ Tĩnh, ngày 22 tháng 7 năm 1992, một đoàn nghiên cứu gồm các cán bộ Viện Khảo cổ học, Viện Hán Nôm, Giáo sư – Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi đã về khảo sát tại chùa Giám ở huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Hưng. Bia năm Vĩnh Thịnh thứ 13 cho biết: thiền sư Tuệ Tĩnh có tên đầy đủ là Chân An Giác Tính Tuệ Tĩnh, mất năm Quý Tỵ tức năm 1713. Tuệ Tĩnh đã xuất gia từ bé nên không có chuyện ông đi học, làm quan, rồi mới xuất gia và chết ở Trung Quốc như truyền thuyết đã nói.

Các di tích thờ Tuệ Tĩnh đã được khảo sát cho đến nay chưa tìm thấy dấu vết nào chứng tỏ Tuệ Tĩnh đã sống và dựng chùa, xây dựng tháp, chữa thuốc ở thế kỷ XIV (đời Trần)… các di tích thờ Tuệ Tĩnh cũng như bản thân pho tượng có niên đại từ cuối thế kỷ XVII cho đến năm 1900.

Ngày viết:
Giáo sư – Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi sinh ngày 2 tháng 1 năm 1919 tại xã Phú Minh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội và mất ngày 3 tháng 2 năm 2008. Ông là một nhà nghiên cứu dược học nổi tiếng và là “cây đại thụ” của nền y học cổ truyền Việt Nam.
LEAVE A REPLY
Please enter your comment!