Cây Vải (Quả Vải, Lệ Chi) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi

189
Cây Vải
Cây Vải
Đánh giá

Những cây thuốc và vị thuốc Việt NamĐỗ Tất Lợi

Vải trang 441-443 tải bản PDF tại đây.

Còn gọi là Quả Vải, Lệ Chi, Phle Kulen (Campuchia).

Tên khoa học Litchi sinensis Radlk. (Nephelium litchi Cambess, Euphoria litchi Desf).

Thuộc họ Bồ hòn Sapindaceae.

Mô tả cây

Vải là một cây to có thể cao tới 10m. Cành thường mọc ngang, lá kép chắn, gồm 3 đến 4 đối lá chét hình mác, hay thuôn dài, hai đầu tù, dai, mặt trên bóng, mặt dưới mờ. Hoa mọc thành chuỳ tận cùng, trên cành mang hoa phủ đầy lồng nâu nhạt. Hoa không cánh, 5 lá đài đánh nhau. Nhị 7-10, 3 lá noãn nhưng 1 lép nên bầu chỉ có 2 ô, mỗi ô chứa một noãn. Quả hình cầu, to gần bằng quả trứng gà, vỏ quả khô và mỏng, sần sùi chứa một hạt to bao bọc bởi một áo hạt trắng, mẫm, nhiều nước, thơm ngọt và chua, ăn được.

Cây Vải
Cây Vải

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây vải được trồng ở khắp Việt Nam, còn thấy ở Campuchia, Lào, Trung Quốc, Thái Lan, phía bắc Ấn Độ.

Quả vải thu hoạch vào tháng 5-6 dùng ăn tươi hay sấy khô hoặc đóng hộp dùng dần. Hạt vải thái mỏng phơi hay sấy khô dùng làm thuốc với tên lệ chi hạch.

Thành phần hoá học

Trong áo hạt (tử y) ta thường gọi là múi vải có chất đường chủ yếu là glucoza (66%); một ít dưới dạng sacaroza (5%); protein 1,5%; chất béo 1,4%; vitamin C (trung bình 40mg trong 100g dịch áo hạt) vitamin C, vitamin A và B (hai thứ vitamin này thường chỉ thấy trong áo hạt tươi, khổ thì thường mất đi), axit citric.

Trong hạt vải (lệ chi hạch) có tanin 1-1,5%, độ tro 1-1,2%, độ ẩm 10-12%, chất béo 5-6%.

Trong hạt vải có metylencyclopropyglyxin

Công dụng và liều dùng

Áo hạt được dùng ăn và làm thuốc từ lâu đời. Trong tài liệu cổ người ta cho rằng áo hạt có vị ngọt, chua, tính bình hay ôn, không có độc. Có tác dụng nuôi huyết, làm hết phiền khát, tiêu thũng, chữa những bệnh mụn nhọt, làm cho đậu mọc dẻ, ăn nhiều đẹp nhan sắc nhưng trong tác giả cổ cũng có tác giả lại nói rằng ăn nhiều thì phát nhiệt, chảy máu cam và đau răng (Mậu Hy Ung và Hoàng Cung Tú).

Ngày dùng 10-16g áo hạt khô.

Hạt vải (lệ chi hạch) cũng là một vị thuốc được dùng từ lâu đời. Theo tài liệu cổ, lệ chi hạch có vị ngọt, chát tính ôn, không có độc. Có tác dụng tán hàn, thấp kết khí, là thuốc chữa âm nang sưng đau (thoát vị). Còn dùng chữa ỉa chảy của trẻ em.

Ngày dùng từ 4 đến 8g dưới dạng bột hay sắc uống

Các bộ phận khác. Ngoài ra người ta còn dùng hoa, vỏ thân và rễ sắc lấy nước súc miệng chữa bệnh viêm họng, đau răng.

Đơn thuốc có Vải và Hạt vải

Chữa nhọt:

Múi vải giã nát với ô mai thành cao đắp lên mụn nhọt (theo sách Tế sinh bị lãm).

Đơn khác: 5-7 múi vải giã nát với ít hồ nếp, dàn thành miếng cao dán lên nơi mụn nhọt (để hở miệng) (theo sách Phổ tế phương).

Chữa nấc:

Vải cả quả đốt thành than tán bột hoà với nước nóng mà uống. (Y phương trích yếu).

Chữa đậu sang không mọc:

Múi vải ngâm rượu cho uống. Ngày dùng 2-3 múi.

Đau răng:

Quả vải để cả vỏ hạt, thêm ít hạt muối, đốt thành than, nghiền nhỏ, xát vào răng thì thấy kết quả 

Chữa hòn dái sưng đau:

Hạt vải đốt thành than nghiền với rượu cho uống, mỗi ngày 4 đến 6g.

Đơn khác: 

49 hạt vải thái mỏng, sấy khô, tán nhỏ, trấn bì 36ng sấy khô tán nhỏ, lưu hoàng 16g, tất cả ba vị tấn nhỏ, dùng nước cơm thêm ít muối làm thành viên bằng hạt đậu xanh, lúc nào đau uống 9 viên thuốc này, dùng rượu mà chiêu thuốc.

Đơn khác:

Hạt vải, trần bì, hồi hương ba vị bằng nhau tán nhỏ, mỗi lần uống 4 đến 6g, dùng rượu chiêu thuốc.

Chú thích:

  1. Ngoài cây vải nói trên, trong nhân dân đặc biệt ở miền Nam hay trồng và dùng loại vải thiều hay lôm chôm, chôm chôm, sermon hay chle sao mao (Campuchia) có tên khoa học là Nephelium lappaceum L. cùng họ. Cây cao vừa phải, lá kép gồm 1 đến 4 đôi lá chét, hoa mọc thành chuỳ dài vượt lá, quả hình trứng, dài 6 cm, có lông to và cứng, hạt có áo hạt dính. Được trồng nhiều ở miền Nam ít trống ở miền Bắc nước ta. Còn mọc ở Campuchia, Indonesia. Thái Lan. Áo hạt ăn được nhưng kém vải do dính vào hạt, vị chua ngọt, thơm dễ chịu. Hạt đắng và gây say, chứa 35-48% chất dầu béo đặc gần như bơ cacao, gồm arachidin kết hợp với olein, có thể dùng chế xà phòng hay nến. Quả và vỏ quả được dùng chữa ỉa chảy, sốt, kiết lỵ. Trong vỏ quả có tanin và một saponin dọc.
  1. Một số người ăn quả vải bị ngộ độc (người nôn nao,nổi mề đay, đau bụng dữ dội, nôn mửa, ỉa chảy, khó thở, huyết áp hạ…) không phải do bản thân quả vải mà là do một thứ nấm độc Candida tropicalis thường thấy ở núm những quả vải chín quá, đập nát, úng thổi. Hàm lượng đường, pH, axit là môi trường cần thiết cho nấm phát triển. Vậy không nên ăn quá nhiều, nhất là khi thấy thấy chất lượng quà có những biến đổi khác thường.
Ngày viết:
Giáo sư – Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi sinh ngày 2 tháng 1 năm 1919 tại xã Phú Minh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội và mất ngày 3 tháng 2 năm 2008. Ông là một nhà nghiên cứu dược học nổi tiếng và là “cây đại thụ” của nền y học cổ truyền Việt Nam.
LEAVE A REPLY
Please enter your comment!