Cây Sen – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi

267
Cây Sen
Cây Sen
Đánh giá

Những cây thuốc và vị thuốc Việt NamĐỗ Tất Lợi

Sen trang 800-803 tải bản PDF tại đây.

Còn có tên là liên, quỳ.

Tên khoa học Nelumbo nucifera Gaertn. (Nelumbium nuciferum Gaertn., Nelumbium speciosum Willd.).

Thuộc họ Sen Nelumbonaceae.

Ta dùng tâm sen (Embryo Nelumbinis hoặc Plumula Nelumbinis) còn gọi là liên tâm hay liên tử tám là chơi mầm phơi hay sấy khô lấy ở hạt sen.

Mô tả cây

Sen là một loại cây mọc ở dưới nước, thân rễ hình trụ mọc ở trong bùn thường gọi là ngó sen hay ngẫu tiết, ăn được, lá (liên diệp) mọc lên khỏi mặt nước, cuống lá dài, có gai nhỏ, phiến lá hình khiên, to, đường kính 60-70cm có gần toả tròn. Hoa to màu trắng hay đỏ hồng, đều lưỡng tính. Đài 3-5, màu lục. Tràng gồm rất nhiều cánh màu hồng hay trắng một phần, những cánh ngoài còn có màu lục như lá đài. Nhị nhiều, bao phấn 2 ô, nứt theo một kẽ dọc. Trung đới mọc dài ra thành một phần hình trắng thường gọi là gạo sen dùng để ướp chè. Nhiều lá noãn rời nhau đựng trong một để hoa loe ra thành hình/hànras.com/ ngược gọi là gương sen hay liên phòng. Mỗi lá noãn có 1-2 tiểu noãn. Quả (thường gọi là hạt sen) chứa một hạt (liên nhục) không nội nhũ. Hai lá mầm dày. Chồi mầm (liên tâm) gồm 4 lá non gập vào phía trong.

Cây Sen
Cây Sen

Phân bố, thu hái và chế biến

Sen được trồng ở nhiều nơi trong nước ta để ăn và dùng làm thuốc. Mùa thu hái vào các tháng 7-9.

Thành phần hoá học

Năm 1970, D. Cunitomo (J. Pharm. Soc. Jap., 1970, 90, 9,1165) đã tách được từ lá sen các chat anonain, pronuxiferin, N-nornuxiferin, liriodenin, D. N. metylcoclaurin, roemerin, nuxiferin và O.nornuxiferin.

Lá sen-hà diệp có chứa nhiều ancaloit: nuxiferin C19H21O2N, N-nornuxiferin C18H19O2N, anonain C17H15O2N, roemerin C18H17O2N, armepavin C19H23O3N, N- metylcoclaurin C17H21O3N, N-metylizococlaurin C17H21O3N, pronuxiferin C19H21O3N liriodenin, spermatheridin C169O2N, dehydronuxiferin C11H19O2N, dehydro-roemerin C18H15)2N, dehydroanonain C17H13O2N, nelumboxit C27H28O18.6 1/2H,O (Dược học học bảo, 1961, 81, 1158).

Có tác giả còn thấy vitamin C (C. A., 1961, 55, 7564c), axit xitric, axit tactric, axit oxalic, axit succinic (Hoá học học bảo, 1957, 23, 201).

Trong liên tâm có asparagin NH2COCH2CH (NH2)-COOH và một ít ancaloit chứng 0,06%; Nelumbin là một chất màu trắng có vị rất đắng, thể đặc cứng dòn ở 40-45°C, trên 65°C là một chất sền sệt, dễ tan trong rượu, trong clorofoc, ete etylic, axeton, axit loãng và con amylic,
nhưng gần như không tan trong ete dấu hoả,
cho kết tủa với các thuốc thử ancaloit.

Theo dược tài học (1964) trong liên tâm có 0,4% liensinin với công thức:

Liên tâm cũng chứa nhiều ancaloit: liensinin C17H42O6N izoliensinin C37H42O6N2. neferin. C18H4O6N2, lotusin C19H24O3N, metylcorypalin C12H17O2N (C. A., 1971, 74, 100254g) nuxiferin. pronuxiferin (Dược học tạp chí 1966, 86, 75), demetylcoclaurin C16H17O3N (Chem. Phar. Bull. 1970, 18, 2564).

Tác dụng dược lý

1. Nelumbin có tính chất độc đối với tim (Greschoff và Boorsma).

2. Có tác dụng bình tĩnh dục tính cho nên có thể dùng trong bệnh di tinh (U.S.D=thuốc thông thường của Mỹ).

3. Qua nhiều lần thử tác dụng của thuốc chế từ sen trên tử cung cổ lập của chuột có thai và không có thai thấy có tính chất làm yếu cơ.

Nhưng thí nghiệm trên từ cung cô lập của thỏ thì lại thấy tác dụng kích thích. Cho thỏ cái uống nước sen cũng thấy tác dụng như vậy.

Đối với ruột cô lập, sen làm giảm sự co bóp.

Cho chó uống nước sen thấy huyết áp tăng lên, lượng nước tiểu giảm xuống. (Theo F. I. Ibraghimov và Ibraghimôva, 1960).

Công dụng và liều dùng

Dùng chữa tim hồi hộp, mất ngủ, di mộng tinh. Ngày uống 4-10g tâm sen khô dưới dạng thuốc sắc hay thuốc pha, có thể thêm đường cho dễ uống.

Theo tài liệu cổ, tâm sen có vị đắng, tính hàn, Có tác dụng thanh tâm khứ nhiệt. Dùng chữa tâm phiền, thổ huyết,
Những vị thuốc khác lấy từ sen ra:

Liên ngẫu

Ngó sen-Nodus Rhizomatis Loti.

Trong ngó sen có asparagin 2% acginin,
trigonelin, tyrocin, ête photphoric, glucoza, vitamin C. Trigonelin C,H,NO, kết tinh trong rượu loãng sẽ ngậm 1 phân tử nước. Nếu đun tới 100C sẽ mất nước. Độ chảy 218″, rất dễ tan trong nước, trong rượu, gần như không tan trong ête và clorofoc.

Công dụng và liều dùng: Làm thức ăn, thuốc cầm máu, dùng trong những trường hợp đi ngoài ra máu, tiểu tiện ra máu, nôn ra máu, máu cam, tử cung xuất huyết. Ngày dùng từ 6-12g dưới dạng thuốc sắc.

Thạch Liên tử

Fructus Nelumbinis-ta vẫn gọi nhầm là hạt sen chính là quả sen, có vỏ quả, nếu bóc lấy hạt, ta sẽ được liên nhục hay liên tử (Semen Nelumbinis). Trong liên nhục, người ta đã phân tích thấy có nhiều tỉnh bột, trigonelin, đường (raffinoza) C18H32)16.5H2O protit 16,6%, chất béo 2%, cacbon hydrat 62%-canxi 0,089%, photpho 0,285%, sắt (Fe) 0,0064%.

Công dụng và liều dùng:

Thạch liên tử thường dùng chữa lỵ cấm khẩu với liều từ 6 đến 12g dưới dạng thuốc sắc.

Liên nhục: Thuốc bổ, cổ tinh, chữa di tinh, mất ngủ, thần kinh suy nhược. Ngày dùng từ 10 đến 30g dưới dạng sắc hay thuốc bột.

Theo tài liệu cổ liên tử vị ngọt, tính bình. Có tác dụng bổ tỳ, dưỡng tâm, sáp trường, cố tinh. Dùng chữa tỳ hư sinh tiết tả (la chảy), di mộng tinh, bằng lậu, đới hạ.

Liên phòng

Receptaculum Nelumbinis là gương sen già sau khi đã lấy hết quả rồi, phơi khô. Trong liên phòng có protit 4,9%, chất bé 0,6%, cacbon hydrat 9%, carotin 0,00002%, nuclein 0,00009%, vitamin C 0,017%.

Công dụng và liễu dùng:

Thuốc cầm máu: Dùng chữa bệnh đi đại tiện ra máu, bệnh bằng đới. Ngày dùng 15-30g dưới dạng thuốc sắc.

Theo tài liệu cổ liên phòng có vị đắng, chát, tính ổn, vào 2 kinh can và tâm bào. Có tác dụng tiêu ứ, cầm máu. Dùng chữa ứ huyết bụng đau, đẻ xong nhau chưa ra, băng huyết, tiểu tiện ra máu, tiểu tiện khó khăn.

Đơn thuốc chữa băng huyết sau khi đẻ

Gương sen 5 cái, hương phụ 80g. Đối chảy, tán nhỏ. Ngày uống 8-24g, chia 2-3 lần uống.

Lá sen

Hà diệp-Folium Loti.

Trong lá sen có chừng 0,20-0,30% tanin, một lượng nhỏ ancaloit gồm nuxifcrin C19H21O2N. nonuxiferin C18H19O2N và roemerin C18H17O2N các chất khác chưa rõ. Trong cuống lá có một lượng nhỏ roemerin và nonuxiferin.

Công dụng và liều dùng

Thường người ta cho lá sen cùng một công dụng với gương sen, Nhưng khi bệnh cấp thì dùng lá sen. Liều dùng 15-20g: Dưới dạng thuốc sắc.

Theo tài liệu cổ lá sen vị đắng tính bình, vào 3 kinh can, tỳ và vị. Có tác dụng tháng thanh tán ứ, thanh thử hành thuỷ. Dùng chữa thử thấp tiết tả, thuỷ chí phù thũng, lỗi đầu phong, nôn ra máu, máu cam, băng trung huyết lỵ.

Liên tu

Stamen Nelumbinis tức là tua nhị đực của hoa sen bỏ hạt gạo đi, rồi phơi khô.

Thành phần hoá học: Tanin, các chất khác chưa rõ.

Công dụng và liều dùng

Chữa băng huyết, thổ huyết, di mộng tinh. Ngày uống 5-10g dưới dạng thuốc sắc.

Ngày viết:
Giáo sư – Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi sinh ngày 2 tháng 1 năm 1919 tại xã Phú Minh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội và mất ngày 3 tháng 2 năm 2008. Ông là một nhà nghiên cứu dược học nổi tiếng và là “cây đại thụ” của nền y học cổ truyền Việt Nam.
LEAVE A REPLY
Please enter your comment!