Cây Vông Nem – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi

205
Cây Vông Nem
Cây Vông Nem
Đánh giá

Những cây thuốc và vị thuốc Việt NamĐỗ Tất Lợi

Sen trang 804-805 tải bản PDF tại đây.

Còn có tên là hải đồng bì, thích đồng bì.

Tên khoa học Erythrina orientalis (L) Murr; Erythrina indica Lamk. E, variegata L. Var orientalis (L) Merr.

Thuộc họ Cánh bướm Papilionaceae.

Ta dùng lá tươi hay phơi hoặc sấy khô (Folium Erythrinae) hoặc vỏ thân phơi hay khô (Cortex Erythrinae) của cây vòng. Tên vông nem vì nhân dân thường dùng lá để gói nem và để phân biệt với cây vòng đồng.

Mô tả cây

Cây cao từ 10-20m, mọc khắp nơi, nhưng đặc biệt ưa mọc ở ven biển, thân có gai ngắn. Lá gồm 3 lá chét giữa rộng hơn là dài, dài 10-15cm, hai lá chết hai bên dài hơn rộng hình 3 cạnh. Hoa màu đỏ tươi tụ họp từ 1-3 thành chùm dầy. Quả giáp dài 15-30cm, đen, hơi hẹp lại ở giữa các hạt. Trong mỗi quả có 5-6 hạt hình thận màu đỏ hoặc nâu, tễ rộng, hình trứng đen có vành trắng.

Phân bố, thu hái và chế biến

Mọc hoang và được trồng ở khắp nơi trong nước ta để làm hàng rào và lấy lá ăn, hoặc làm cảnh.

Cây Vông Nem
Cây Vông Nem

Thành phần hoá học và tác dụng dược lý

Lá và thân đều chứa một ancaloit độc érytrin (Erythrine) có tác dụng làm giảm và có khi làm mất hẳn hoạt động thần kinh trung ương, tuy nhiên không ảnh hưởng tới độ kích thích vận động và sự co bóp của cơ.

Có tác giả còn lấy được chất saponin gọi là migarin (migarrhin) có tính chất làm dãn đồng tử.

Trong hạt có ancaloit gọi là hypaphorin C14H18O2N22H2O. Hypaphorin là một chất có tinh thể, sau khi sấy khô, chảy ở 255°C (Q)=1974, tin trong nước khi chịu tác dụng KOH đặc, hypaphorin cho trimetylamin và indol Hypaphorin đã tổng hợp được rồi. Chất hypaphorin tăng phản xạ kích thích của ếch và cuối cùng đưa đến trạng thái co giật uốn ván. Ngô ứng Long, ở phòng Dược lý Trường sĩ quan Quân y (1960) có nghiên cứu tác dụng dược lý của lá vòng đi đến kết luận như sau:

1. Tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương: Làm yên tĩnh, gây ngủ, hạ nhiệt độ, hạ huyết áp.

2. Tác dụng co bóp các cơ.

3. Lá vông ít độc. Thí nghiệm trên chuột nhắt trắng, chuột lang, chuột bạch, thỏ, mèo, chó, khỉ, đều không thấy hiện tượng ngộ độc nào.

Trên thí nghiệm nước sắc 10% lá vông, 9% “ NaC có tác dụng làm co cứng cơ chân ếch và cơ thất trực tràng, co thắt cơ van, cơ hậu môn.

Công dụng và liều dùng

1. Thuốc an thần, gây ngủ. Rượu lá vòng dùng với 1-2g một ngày, hoặc xirô lá vòng (rượu lá vòng tươi 1/5, 150m1, xirô vừa đủ 500ml) uống mỗi ngày 20ml trước khi đi ngủ. Có thể dùng thuốc hãm hoặc thuốc sắc, ngày uống 2g đến 4g lá.

2. Nhân dân ta còn uống lá vòng và đắp lá vông hơ nóng vào hậu môn để chữa trĩ.

3. Bệnh viện 108 (Hà Nội, 1960) đã dùng lá
võng nem đã rửa sạch bằng thuốc tím giã nhỏ với một ít cơm nguội đắp lên các vết loét (chữa bằng lỗi khác không khỏi) thấy vết loét chóng lên thịt non. Nếu đắp lâu quá thì thịt có thể lên cao quá mức cũ.

Nhân dân Trung Quốc dùng vỏ cây vòng làm thuốc chữa sốt, sát trùng, thông tiểu, an thần và gày ngủ, dùng trong bệnh thổ tả, lỵ, amip và trực trùng, nhuận tràng. Dùng với liều 6-12g dưới dạng thuốc sắc.

Còn dùng ngoài làm thuốc xoa bóp, thuốc mỡ.

Theo tài liệu cổ, vỏ vông nem có vị đắng tính bình, vào 2 can và thận. Có tác dụng khử phong thấp, thông kinh lạc, sát trùng. Dùng chữa lưng gối đau nhức, tê liệt, lở ngứa. Người khôngphong hàn thấp không dùng được.

Đơn thuốc có vông nem

Thuốc chữa một số bệnh ngoài da:

Vỏ vông nem, vỏ cây dâm bụt, sà sàng tử, rễ chút chit. Tất cả tán nhỏ, pha thành rượu 1/5. Dùng bởi ngoài chữa các bệnh ngoài da.

Thuốc chữa rắn cắn:

Hạt hay vỏ vọng nem thái nhỏ, đun với một ít nước thành bột nhão đắp lên chỗ rắn cắn.

Chữa răng sâu:

Tản nhỏ rắc vào nơi răng sâu.

Ngày viết:
Giáo sư – Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi sinh ngày 2 tháng 1 năm 1919 tại xã Phú Minh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội và mất ngày 3 tháng 2 năm 2008. Ông là một nhà nghiên cứu dược học nổi tiếng và là “cây đại thụ” của nền y học cổ truyền Việt Nam.
LEAVE A REPLY
Please enter your comment!