Cây Mía Dò (Cây Tậu Chó) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi

295
Mía dò
Mía dò
Đánh giá

Những cây thuốc và vị thuốc Việt NamĐỗ Tất Lợi

Mía dò trang 585-586 tải bản PDF tại đây.

Còn gọi là tậu chó (Lạng Sơn), đọt đắng, đọt hoàng, cát lồi, củ chóc.

Tên khoa học Costus speciosus Smith, (Costus loureiri Horan., Amomum hirsutum Lamk., Amomum arboreum Lour.)

Thuộc họ Gừng Zingiberaceae. Trong một số hệ thống hiện nay chỉ Costus được tách ra thành họ riêng Costaceae.

Mô tả cây

Loại cỏ cao chừng 50-60cm, thân mềm, có thân rễ phát triển thành củ, lá xoè ra, hình mác, phía đáy lá tròn, đầu phiến nhọn, nhẵn, dài 15-20cm, rộng 6-7cm, cuống ngắn. Cụm hoa mọc thành bông ở đầu cành, không cuống, hình trứng, mọc rất sít, lá bắc xếp cặp đôi không đối xứng, màu đỏ, có lông dài và hơi nhọn, tràng hình phễu, phiền chia thành 3 phần đều, môi rất lớn, màu hồng hay trắng, dài và rộng 4-8cm. Quả nang dài 13mm, nhiều hạt nhẵn, màu đen, bóng, dài 3mm.

Mía dò
Mía

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta, miền núi cũng như đồng bằng, thường ưa những nơi ẩm thấp, còn thấy mọc ở Malaysia, Ấn Độ, Tân Ghinê.

Có nơi trồng để lấy thân rễ ăn.

Người ta thường dùng búp non hay cành non nướng rồi vắt lấy nước làm thuốc.

Thành phần hoá học

Thân rễ chứa tới 77-87% nước: Trong thân rễ khô có 5,5% nước, 0,75% chất tan trong ete, 6,75% chất anbuminoit, 66,65% hydrat cacbon, 10,65% xơ, và 9,70% tro.

Năm 1970, từ rễ cái khổ của củ chóc, Pandey V. B và B. Dasgupsta đã chiết được 2,12% dios-genin tinh khiết. Ngoài ra còn có tigogenin và một số saponin khác (C. A., 1971, 74 (11)505131)

Công dụng và liều dùng

Nhân dân một số nơi (Lạng Sơn) dùng ngọn hay cành non nướng nóng vắt lấy nước nhỏ vào mắt hay vào tai chữa đau mắt hay đau tai.

Có nơi dùng thân rễ uống, chữa sốt, ra mồ hôi, làm thuốc mát.

Ngày dùng 10-20g, dùng ngoài không kể liều lượng.

Thân rễ có khi được dùng luộc ăn.

Có thể là một nguồn chiết diosgenin.

Chú thích:

Chớ nhầm cây mía dò hay củ chóc vừa mô tả với các cây củ chóc thuộc chi Typhonium như T. trilobatum (L.) Schott thuộc họ Ráy (Araceae) là một loại cỏ mọc hoang ở các vùng nông thôn, bên bãi hoang hay trong vườn rậm. Cây này có lá xẻ thành 3 thuỳ, hoa nở vào đầu mùa thu, có mùi thối khó chịu (nhất là vào lúc chập tối). Được dùng với tên bán hạ, bán hạ nam.

Ngày viết:
Giáo sư – Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi sinh ngày 2 tháng 1 năm 1919 tại xã Phú Minh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội và mất ngày 3 tháng 2 năm 2008. Ông là một nhà nghiên cứu dược học nổi tiếng và là “cây đại thụ” của nền y học cổ truyền Việt Nam.
LEAVE A REPLY
Please enter your comment!