MỐI LIÊN QUAN CỦA TƯƠNG HỢP NHĨ TRÁI – THẤT TRÁI VỚI CHỨC NĂNG NHĨ TRÁI, CHỨC NĂNG TÂM TRƯƠNG THẤT TRÁI VÀ ĐẶC ĐIỂM TỔN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH VÀNH Ở BỆNH NHÂN HỘI CHỨNG ĐỘNG MẠCH VÀNH MẠN

21
Đánh giá

MỐI LIÊN QUAN CỦA TƯƠNG HỢP NHĨ TRÁI – THẤT TRÁI VỚI CHỨC NĂNG NHĨ TRÁI, CHỨC NĂNG TÂM TRƯƠNG THẤT TRÁI VÀ ĐẶC ĐIỂM TỔN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH VÀNH Ở BỆNH NHÂN HỘI CHỨNG ĐỘNG MẠCH VÀNH MẠN

Nguyễn Văn Tú1, Nguyễn Đức Long2, Lương Công Thức3,

1 Học viện Quân y
2 Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn
3 Bệnh viện Quân y 103

Tóm tắt

Mục tiêu: Tìm hiểu mối liên quan của tương hợp nhĩ trái – thất trái với chức năng nhĩ trái, chức năng tâm trương thất trái và đặc điểm tổn thương động mạch vành ở bệnh nhân hội chứng động mạch vành mạn. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 64 bệnh nhân có hội chứng động mạch vành mạn (HCĐMVM) nằm điều trị tại khoa Nội tim mạch và khoa Can thiệp tim mạch, bệnh viện Quân y 103 từ tháng 10/2024 đến tháng 04/2025. Các bệnh nhân được siêu âm tim đánh giá chức năng nhĩ trái, chức năng thất trái, tương hợp nhĩ trái – thất trái sau đó được chụp động mạch vành (ĐMV) qua da hoặc cắt lớp vi tính ĐMV (CCTA) theo chỉ định. Kết quả: Chỉ số tương hợp nhĩ trái – thất trái (LACI) tương quan nghịch với phân suất làm rỗng nhĩ trái toàn bộ (r = – 0,496, p < 0,001), phân suất làm rỗng nhĩ trái thụ động (r = – 0,392, p < 0,001) và phân suất làm rỗng chủ động (r = – 0,267, p < 0,05); tương quan thuận với thể tích nhĩ trái tối đa (r = 0,334, p < 0,01), tỉ lệ E/e’ trung bình (r = 0,258, p < 0,05). Sự khác biệt của LACI ở các nhóm có số nhánh ĐMV tổn thương và mức độ tổn thương ĐMV khác nhau là chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Kết luận: Tương hợp nhĩ trái – thất trái tương quan nghịch với chức năng nhĩ trái, tương quan thuận với rối loạn chức năng tâm trương thất trái ở bệnh nhân HCĐMVM. Chưa thấy sự khác biệt của LACI giữa các nhóm bệnh nhân có số nhánh và mức độ tổn thương ĐMV khác nhau.

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Lân Việt, Phạm Việt Tuân, Phạm Mạnh Hùng (2010). Nghiên cứu mô hình bệnh tật ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện tim mạch Việt Nam trong thời gian 2003-2007. Tạp chí tim mạch học Việt Nam, 52: 11-18.
2. Thomas L, Abhayaratna WP. Left atrial reverse remodeling: mechanisms, evaluation and clinical significance. JACC Cardiovasc Imaging. (2017) 10(1):65–77.
3. Pezel T, Venkatesh BA, De Vasconcellos HD, et al. Left Atrioventricular Coupling Index as a Prognostic Marker of Cardiovascular Events: The MESA Study. Hypertension. 2021;78(3): 661-671.
4. Lê Thị Ngọc Hân, Lương Công Thức, Trần Đức Hùng (2023). Mối liên quan của sức căng nhĩ trái, tương hợp nhĩ trái – thất trái với rối loạn chức năng tâm trương thất trái và nồng độ NT-probệnh nhânP ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp được can thiệp động mạch vành qua da. Tạp chí y dược học quân sự, (7): 63 -73.
5. Fan J, Wang H, Ma C, Zhou B. Characteristics of atrial ventricular coupling and left atrial function impairment in early Fabry disease patients using two-dimensional speckle tracking echocardiography. Int J Cardiol. 2025;422: 132967.
6. Nguyen, J., Weber, J., Hsu, B. et al. Comparing left atrial indices by CMR in association with left ventricular diastolic dysfunction and adverse clinical outcomes. Sci Rep 11, 21331 (2021).
7. Behairy H.N, Homos .M, Ramadan .A, et al. Evaluation of left ventricle diastolic dysfunction in ischemic heart disease by CMR: Correlation with echocardiography and myocardial scarring. The Egyptian Journal of Radiology and Nuclear Medicine. 2014;45(4): 1099-1104.

LEAVE A REPLY
Please enter your comment!