NHẬN XÉT KẾT QUẢ SỚM ĐIỀU TRỊ SỎI THẬN BẰNG PHƯƠNG PHÁP TÁN SỎI THẬN QUA DA TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y THÁI BÌNH
Tóm tắt
Mục tiêu: Nhận xét kết quả sớm điều trị sỏi thận bằng phương pháp tán sỏi thận qua da (TSTQD) tại Bệnh viện Đại Học Y Thái Bình. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tiến cứu trên 198 bệnh nhân được thực hiện tán sỏi thận qua da tại khoa Ngoại, Bệnh viện Đại học Y Thái Bình trong thời gian từ tháng 05 năm 2022 đến tháng 05 năm 2024. Kết quả: Vị trí sỏi hay gặp nhất là ở bể thận và 1 nhóm đài, chiếm 35,9%. Trước mổ có 66,9% BN có giãn đài bể thận độ II. Tỉ lệ sạch sỏi sau mổ lần 1 và sau mổ 1 tháng lần lượt là 66,2% và 68,2%. Sốt là biến chứng hay gặp nhất sau mổ, chiếm tỉ lệ 3%. Thời gian nằm viện sau mổ trung bình là 6,88 ± 2,28 ngày. Phần lớn BN có kết quả tốt sau mổ lần 1 và sau mổ 1 tháng, chiếm tỉ lệ lần lượt là 66,2% và 68,2%. Kết luận: Tán sỏi thận qua da là phương pháp hiệu quả và an toàn trong điều trị sỏi thận với tỉ lệ sạch sỏi cao, ít biến chứng sau mổ và mang lại kết quả điều trị tốt.
Từ khóa
Điều trị sỏi thận, tán sỏi thận qua da
Tài liệu tham khảo
2. Lê Đình Nguyên và Trần Văn Hinh (2012), Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị sỏi thận bằng phương pháp lấy sỏi qua da, Tạp chí Y học Việt Nam. 1, tr. 71-74.
3. Nguyễn Hoàng Đức (2007), Phẫu thuật lấy sỏi thận qua da, Tạp chí ngoại khoa. 6, tr. 35-41.
4. Lê Sĩ Trung (2004), Biến Chứng Nội Soi Thận Qua Da Nhân 215 Trường Hợp, Tạp chí Y học Thực Hành. 419, tr. 561-563.
5. Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng và CS (2003), Lấy sỏi thận qua da: kết quả sớm sau mổ qua 50 trường hợp tại Bệnh viện Bình Dân, Y học TP Hồ Chí Minh 2(1), 66 -74.
6. Jeffrey. A. C. (1998), Clinical Significance of Fever after Percutaneous Nephrolithotomy, urology. 52, tr. 48-50.
7. Nguyễn Đình Xướng (2010), Phân tích hiệu quả và các biến chứng của phương pháp lấy sỏi thận qua da, Luận án tiến sĩ y học, Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh.
8. Vũ Nguyễn Khải Ca (2009), Nghiên cứu ứng dụng phương pháp tán sỏi qua da trong điều trị sỏi thậntại Bệnh Viện Việt Đức, Luận án tiến sĩ y học, Đại Học Y hà Nội.































