Cây Xích Thược – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi

239
Xích Thược
Xích Thược
Đánh giá

Những cây thuốc và vị thuốc Việt NamĐỗ Tất Lợi

Xích Thược trang 66 – 67, tải bản PDF tại đây.

Xích thược Radix Paeoniae rubrae là rễ phơi hay sấy khô của 3 loài thược dược:

1. Thược dược (Paeonia lactiflora Pall.) đã mô tả ở trên. Nhưng là loài thược dược mọc hoang, củ nhỏ bé hơn dùng chế thành xích thược

2. Thảo thược dược (Paeonia obovata Maxim.). Cây này cũng mọc hoang, rễ phát triển thành củ có vỏ màu nâu đỏ

3. Xuyên xích thược (Paeonia veitchii Lynch). Tất cả xích thược đều do cây mọc hoang cung cấp, Vào các tháng 3-5 hay các tháng 5-10 đào về, trừ bỏ thân rễ và rễ nhỏ, chia thành từng rễ to nhỏ riêng biệt, rửa sạch đất cát; phơi khô là được.

Thành phần hóa học

Như thược dược: Có tính bột, tanin, nhựa, chất nhầy, chất đường, sắc tố và axit benzoic. Tỷ lệ axit benzoic trong xích thược thấp hơn bạch thược (0,92%).

Công dụng và liều dùng

Như thược dược, nhưng trong sách cổ người ta cho rằng: Bạch thược thì bổ huyết, đỏ thì hành huyết. Vì vậy bạch thược bổ, xích thược tả, bạch thược thu liễm, còn xích thược thì tán (theo Mau Hy Ung).

Vị thuốc xích thược
Vị thuốc xích thược

Một tác giả khác là Hoàng Cung Tú nói: “Xích thược và bạch thược chủ trị giống nhau, nhưng bạch thược có sức liễm âm, ích huyết, xích thược có năng lực tán tà hành huyết”.

Đơn thuốc có xích thược

Chữa chảy máu cam

Xích thược tán nhỏ. Mỗi lần uống 6-8g.

Chữa băng huyết bạch đới

Xích thược, hương phụ hai vị bằng nhau, tán nhỏ. Mỗi lần uống 6- 8g. Ngày uống 2 lần. Uống trong 4-5 ngày.

Ngày viết:
Giáo sư – Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi sinh ngày 2 tháng 1 năm 1919 tại xã Phú Minh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội và mất ngày 3 tháng 2 năm 2008. Ông là một nhà nghiên cứu dược học nổi tiếng và là “cây đại thụ” của nền y học cổ truyền Việt Nam.
LEAVE A REPLY
Please enter your comment!