TƯƠNG QUAN GIỮA TẢI LƯỢNG HCV-RNA VÀ NỒNG ĐỘ AST, ALT TRÊN BỆNH NHÂN NHIỄM VIRUS C TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HOÀNG TUẤN TỈNH SÓC TRĂNG
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Viêm gan virus C là nguyên nhân hàng đầu gây xơ gan và ung thư gan. Việc xác định tải lượng HCV-RNA và mối tương quan với chỉ số men gan giúp đánh giá mức độ tiến triển bệnh. Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát tải lượng HCV-RNA và tương quan giữa tải lượng HCV-RNA với nồng độ AST, ALT trên bệnh nhân nhiễm HCV. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang trên 149 bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng viêm gan tại Bệnh viện Đa khoa Hoàng Tuấn tỉnh Sóc Trăng. Xác định tỷ lệ nhiễm HCV bằng Anti-HCV; tải lượng HCV-RNA bằng kỹ thuật Real-time PCR. Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ nhiễm HCV là 22,8% (34/149); tải lượng HCV-RNA có trung vị là 4,09 log10 IU/mL, trong đó đa số dương tính thấp 67,6% (23/34); nồng độ AST, ALT có trung vị lần lượt là 69,5 U/L và 71,5 U/L. Có mối tương quan thuận mức độ mạnh giữa HCV-RNA với AST (r=0,63, p<0,01) và ALT (r=0,61, p<0,001). Kết luận: Mối tương quan thuận mức độ mạnh giữa tải lượng HCV-RNA với nồng độ AST, ALT gợi ý khả năng ứng dụng AST, ALT như chỉ dấu gián tiếp trong đánh giá tiến triển bệnh khi không có điều kiện định lượng HCV-RNA.
Từ khóa
viêm gan C, tỷ lệ nhiễm HCV, tải lượng HCV-RNA
Tài liệu tham khảo
2. Bộ Y tế (2021), “Quyết định số 2065/QĐ-BYT về việc ban hành Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh viêm gan vi rút C”.
3. Trương Quang Phong và Huỳnh Thị Hồng Nhung (2023), “Kiến thức và hành vi liên quan đến bệnh viêm gan vi rút C khảo sát trên người dân tại tỉnh Trà Vinh”, Tạp chí Y học Cần Thơ, tr.7-14. DOI: https://doi.org/ 10.58490/ctump.2023i57.442
4. Nguyễn Phương, Lê Thành Lý (2010), “Nghiên cứu sơ bộ giá trị của chỉ số tỷ lệ AST-tiểu cầu cải tiến trong chẩn đoán mức độ xơ hóa gan của bệnh lý chủ mô gan mạn tính”, Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 14(2):474-478.
5. Trần Phước Thịnh, Trần Tín Nghĩa, Nguyễn Tấn Đạt, Nguyễn Thị Hồng, Phạm Thị Minh, Trần Đỗ Hùng (2022), “Tình hình và một số yếu tố liên quan đến nhiễm virus viêm gan B, C ở bệnh nhân đến khám tại phòng khám nội tiêu hóa gan mật, Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ năm 2016-2017”, Tạp chí Y học Cần Thơ, số 45, tr.28-37.
6. Quế Anh Trâm, Vũ Thị Nga (2023), “Đánh giá mối liên quan giữa kiểu gen HCV với các đặc điểm cận lâm sàng trên bệnh nhân điều trị tại Trung tâm Bệnh nhiệt đới, Bệnh viện Hữu Nghị Đa khoa Nghệ An”, Tạp chí Y học Việt Nam, Tập 524, số 1, tr.269 – 272.
7. Amjad A., Muhammad N., Habib A., Nausheen S., Muhammad I., Mohammad A. B. (2011), “Determination of HCV genotypes and viral loads in chronic HCV infected patients of Hazara Pakistan”, Virology Journal, 8:466, pp.1-6. DOI: 10.1186/1743-422X-8-4.
8. Muhammad N., Mateen J., Aizza Z., Humera J., Sonia Y., Khalid O. A. A. (2022), “Prevalence, Genotypic Distribution and the associated Risk Factors of Hepatitis C Infection in Pakistan Pediatric Patients”, Journal of Pure Applied Microbiology, pp.130-137.
9. Nallagangula K. S., Nagaraj S. K., Venkataswamy L., Chandrappa M. (2018), “Liver fibrosis: a compilation on the biomarkers status and their significance during disease progression”, Future Science OA, 4 (1), FSO250.
10. Sadia A., Ayesha A., Mudassar I., Manzoor H., Manzoor H., Mirwais K. (2021), “Analysis of ALT and AST levels in HCV infected patients”, Advancements in life sciences, volume 8, issue 4, December 2021, pp.349-354.































