THỰC TRẠNG SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRÊN NGƯỜI BỆNH CÓ CHỈ ĐỊNH PHẪU THUẬT SẠCH, SẠCH-NHIỄM TẠI KHOA NGOẠI TIM MẠCH–LỒNG NGỰC, BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC

21
Đánh giá

THỰC TRẠNG SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRÊN NGƯỜI BỆNH CÓ CHỈ ĐỊNH PHẪU THUẬT SẠCH, SẠCH-NHIỄM TẠI KHOA NGOẠI TIM MẠCH–LỒNG NGỰC, BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC

Võ Thị Hương Thảo1, Nguyễn Hoàng Anh2, Nguyễn Mai Hoa2, Nguyễn Thanh Hiền1, Phùng Duy Hồng Sơn1,

1 Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức
2 Trường Đại học Dược Hà Nội

Tóm tắt

Mục tiêu: Phân tích đặc điểm sử dụng kháng sinh trên người bệnh có chỉ định phẫu thuật sạch, sạch–nhiễm tại một đơn vị Phẫu thuật Tim Mạch – Lồng ngực tuyến cuối ở Hà Nội. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, cắt ngang thông qua hồi cứu dữ liệu hồ sơ bệnh án của người bệnh có chỉ định phẫu thuật sạch, sạch-nhiễm tại khoa Ngoại Tim mạch–Lồng ngực, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ ngày 01/10/2023 đến31/12/2023. Kết quả: 236 hồ sơ bệnh án của người bệnh được đưa vào phân tích. Khoàng 43,22% người bệnh có ít nhất một yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ. Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ ghi nhận được là 2,07%. Trên 85% người bệnh được sử dụng 1 mũi kháng sinh dự phòng tại phòng mổ, chủ yếu là cefamandol liều 2g và cefoperazon liều 1g và phần lớn được dùng trong vòng 60 phút trước khi rạch da. Không có người bệnh nào được bổ sung liều kháng sinh dự phòng khi phẫu thuật kéo dài. 100% người bệnh được dùng kháng sinh đến khi ra viện, đa số tiếp tục được chỉ định thêm kháng sinh uống sau khi xuất viện. Tình trạng thay đổi nhiều loại kháng sinh xảy ra phổ biến trong thời gian người bệnh nằm viện. Kết luận: Kết quả nghiên cứu đã cung cấp hình ảnh khái quát về thực trạng sử dụng kháng sinh dự phòng tại Khoa Tim mạch–lồng ngực, là cơ sở để triển khai các chương trình quản lý kháng sinh trong Ngoại khoa phù hợp với điều kiện thực tế của bệnh viện.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Y tế (2023), “Hướng dẫn giám sát nhiễm khuẩn vết mổ – Ban hành kèm Quyết định số 1526/QĐ-BYT ngày 24/03/2023 của Bộ trưởng Bộ Y tế”, pp.
2. Bộ Y tế (2012), “Hướng dẫn phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ. Ban hành kèm theo Quyết định số: 3671/QĐ-BYT ngày 27 tháng 9 năm 2012 của Bộ Y tế”, pp.
3. Lê Thị Anh Thư, Nguyễn Văn Khôi (2010), “Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật sạch và sạch nhiễm tại bệnh viện Chợ Rẫy”, Y học thực hành, 723(6), pp. 4-7.
4. Nguyễn Thanh Lương (2019), “Triển khai thí điểm chường trình kháng sinh dự phòng tại khoa Phẫu thuật lồng ngực Bệnh viện Bạch Mai”, pp.
5. Phạm Thúy Trinh, Lê Thị Anh Đào (2010), “Nghiên cứu tình trạng nhiễm khuẩn vết mổ tại khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 14(1), pp. 124-128.
6. Trần Thị Minh Đức (2012), “Đánh giá tình hình sử dụng kháng sinh tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức giai đoạn 2009 – 2011”, Luận văn thạc sĩ Dược học, Đại học Dược Hà Nội, pp.
7. Organization World Health (2018), “Global Guidelines for the Prevention of Surgical Site Infection”, pp.
8. Bratzler D. W., Dellinger E. P., et al. (2013), “Clinical practice guidelines for antimicrobial prophylaxis in surgery”, Am J Health Syst Pharm, 70(3), pp. 195-283.

LEAVE A REPLY
Please enter your comment!