SỬ DỤNG CHỈ SỐ LÂM SÀNG, BIOMARKER ĐỂ CHỈ ĐỊNH KHÁNG SINH HỢP LÝ CHO TRẺ SƠ SINH DƯỚI 34 TUẦN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá chỉ số lâm sàng, biomarker để chỉ định kháng sinh hợp lý cho trẻ sơ sinh dưới 34 tuần nghi ngờ nhiễm khuẩn sơ sinh sớm có sử dụng kháng sinh ngay sau đẻ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 192 trẻ sơ sinh dưới 34 tuần nghi ngờ nhiễm khuẩn sơ sinh sớm theo NICE 2021 tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Kết quả: Tuổi thai trung bình 30,3 tuần, phần lớn rất non và cực non, cân nặng < 1500 gram, có 56,3% nam và 43,8% nữ. Các triệu chứng lâm sàng tại thời điểm ngay sau đẻ thường gặp là các triệu chứng về hô hấp, tiêu hóa và thần kinh bao gồm thở nhanh (94,3%), rút lõm lồng ngực (94,8%), bú kém (100%), giảm trương lực cơ (50%). Đặc điểm cận lâm sàng ngay sau đẻ không đặc hiệu bao gồm bạch cầu tăng (2,1%), bạch cầu giảm (6,3%), tiểu cầu giảm (1,6%), CRP ≥ 10 mg/L (1%), PH toan (89,1%). Cấy máu dương tính (chiếm 0,5%). Tỷ lệ cắt kháng sinh trong vòng 3 ngày, 5 ngày và 7 ngày lần lượt là 54,2%; 76,6% và 92,9%. Liệu pháp kháng sinh theo kinh nghiệm ban đầu là Ampicillin và Aminoglycoside chiếm 100%. Có mối liên quan chặt chẽ giữa diễn biến lâm sàng, CRP và cấy máu với khả năng cắt kháng sinh sớm. Nhóm lâm sàng tốt, CRP âm tính, cấy máu âm tính có tỷ lệ cắt kháng sinh sớm rất cao (97,5%). Kết luận: Đặc điểm triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng ngay sau đẻ không đặc hiệu cho NKSSS. Kết hợp đánh giá lâm sàng, CRP và cấy máu giúp quyết định cắt kháng sinh an toàn cho trẻ sơ sinh dưới 34 tuần nghi ngờ nhiễm khuẩn sơ sinh sớm.
Từ khóa
Nhiễm khuẩn sơ sinh sớm, trẻ sơ sinh non tháng, chỉ số lâm sàng, biomarker.
Tài liệu tham khảo
2. Võ Hữu Đức & Tạ Văn Trầm. Đặc điểm nhiễm khuẩn sơ sinh sớm tại đơn vị chăm sóc tích cực sơ sinh, bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang từ 01/2015 đến 12/2016. Y học TP. Hồ Chí Minh 22, 234 – 238 (2018).
3. Nguyễn Tứ Sơn et al. Thực trạng sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân sơ sinh tại một số bệnh viện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Journal of 108-Clinical Medicine and Phamarcy 18 (dbv). 18, doi:https://doi.org/10.52389/ydls.v18idbv.1987. (2023).
4. Phan Hùng Việt, Trần Thị Thùy Hương, Nguyễn Thị Thanh Bình & Phạm Thị Ny. Mối tương quan giữa một số chỉ số huyết học và nồng độ CRP của máu cuống rốn với máu ngoại vi trong nhiễm khuẩn sơ sinh sớm ở trẻ sơ sinh non tháng. Y học lâm sàng Bệnh viện Trung ương Huế 88, 87-93 (2023).
5. Tuấn, N. H. et al. Lựa chọn kháng sinh trong bệnh lý nhiễm khuẩn sơ sinh sớm tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2022. Tạp chí Y học Dự phòng 33, 74-82, doi:10.51403/0868-2836/2023/1229 (2023).
6. NICE. Neonatal infection: antibiotics for prevention and treatment NICE guideline [NG195], (2021).
7. Kuppala, V. S., Meinzen-Derr, J., Morrow, A. L. & Schibler, K. R. Prolonged initial empirical antibiotic treatment is associated with adverse outcomes in premature infants. The Journal of pediatrics 159, 720-725, doi:10.1016/j.jpeds.2011.05.033 (2011).
8. Puopolo, K. M., Benitz, W. E. & Zaoutis, T. E. Management of Neonates Born at ≤34 6/7 Weeks’ Gestation With Suspected or Proven Early-Onset Bacterial Sepsis. Pediatrics 142, doi:10.1542/peds.2018-2896 (2018).
9. WHO. Newborn mortality, (2022).































