KHẢO SÁT TÌNH HÌNH TĂNG HUYẾT ÁP KHÓ KIỂM SOÁT VÀ TĂNG HUYẾT ÁP KHÁNG TRỊ TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
Tóm tắt
Đặc vấn đề: Hiện nay, mặc dù đã có nhiều nỗ lực đáng kể trong việc cải thiện công tác chẩn đoán và điều trị nhằm kiểm soát tăng huyết áp, song tỷ lệ bệnh nhân chưa đạt mục tiêu kiểm soát huyết áp vẫn còn ở mức cao. Tăng huyết áp khó kiểm soát và tăng huyết áp kháng trị có liên quan đến nguy cơ cao mắc các biến chứng tim mạch. Nghiên cứu của chúng tôi nhằm đánh giá tỷ lệ mắc và một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp khó kiểm soát và kháng trị. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ và một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp khó kiểm soát và tăng huyết áp kháng trị tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 247 bệnh nhân tăng huyết áp đến khám và điều trị tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Kết quả: Nghiên cứu trên 247 bệnh nhân tăng huyết áp tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ cho thấy tuổi trung bình 62,3 ± 12,7, đa số là nữ (60,7%) và có tỷ lệ cao bệnh đồng mắc như đái tháo đường (41,3%) và rối loạn lipid máu (60,7%). Tỷ lệ tăng huyết áp khó kiểm soát là 55%, trong khi tăng huyết áp kháng trị chiếm 9,3% tổng số mẫu và 16,9% trong nhóm khó kiểm soát. Trong nhóm khó kiểm soát, đa số bệnh nhân sử dụng 2–3 thuốc hạ áp nhưng vẫn chưa đạt mục tiêu, và khoảng 20% chỉ điều trị đơn trị liệu. Không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tăng huyết áp khó kiểm soát/kháng trị với các bệnh đồng mắc (p > 0,05). Kết luận: Tỷ lệ tăng huyết áp khó kiểm soát tại bệnh viện tuyến cuối còn cao, trong khi tăng huyết áp kháng trị chiếm tỷ lệ thấp hơn nhưng vẫn là nhóm nguy cơ cao. Việc chưa tối ưu hóa phác đồ điều trị và kiểm soát đồng thời các yếu tố nguy cơ tim mạch có thể góp phần làm giảm hiệu quả kiểm soát huyết áp. Cần tăng cường chiến lược điều trị đa thuốc, cải thiện tuân thủ, và thực hiện các nghiên cứu quy mô lớn hơn để xác định rõ các yếu tố nguy cơ liên quan
Từ khóa
Tăng huyết áp khó kiểm soát, tăng huyết áp kháng trị.
Tài liệu tham khảo
2. Phan Đình Phong và Phạm Gia Khải (2016), “Tăng huyết áp kháng trị: Thực trạng và những tiếp cận điều trị mới”, Tạp chí Tim mạch học Việt Nam(74), pg. 5-7.
3. Chia Y. C. và S. M. Ching (2014), “Prevalence and predictors of resistant hypertension in a primary care setting: a cross-sectional study”, BMC Fam Pract. 15, pg. 131.
4. Kline G. A. (2023), “Poorly Controlled Blood Pressure: The Virus and the Elephant”, Mayo Clin Proc. 98(5), pg. 644-646.
5. Naydenov S., E. Manov và N. Runev (2024), “Prevalence, Clinical Characteristics, and Treatment of Patients with Resistant Hypertension: A Single-Center Study”, J Cardiovasc Dev Dis. 11(9).
6. Nguyen Hoang Thanh và cộng sự (2020), “Characterizing patients with uncontrolled blood pressure at an urban hospital in Hanoi, Vietnam”, International Journal of Hypertension. 2020(1), pg. 5710281.
7. Park Sungha và cộng sự (2023), “Resistant hypertension: consensus document from the Korean society of hypertension”, Clinical Hypertension. 29(1), pg. 30.































