KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG KHẢ NĂNG PHỤC HỒI NGÔN NGỮ CỦA TRẺ ĐIẾC BẨM SINH SAU PHẪU THUẬT CẤY ỐC TAI ĐIỆN TỬ
Tóm tắt
Mục tiêu: Khảo sát các đặc điểm lâm sàng và sự phục hồi thính giác của trẻ sau phẫu thuật cấy ốc tai điện tử. Thiết kế nghiên cứu: Hồi cứu và tiến cứu mô tả loạt ca. Phương pháp: Khảo sát các đặc điểm lâm sàng và khả năng phục hồi thính giác của trẻ qua đánh giá lâm sàng trên thang điểm CAP. Kết quả: Chúng tôi nghiên cứu 39 trẻ điếc bẩm sinh đã phẫu thuật cấy ốc tai điện tử tại Bệnh viện Tai – Mũi – Họng TPHCM từ 01/2018 đến 04/2020 gồm 20 trẻ nam và 19 trẻ nữ. Độ tuổi phẫu thuật từ 1 đến 13 tuổi (trung bình 3.92 ±2.87 tuổi), trong đó đa số trẻ cấy ốc tai điện tử từ 1 đến 3 tuổi (61.54%). Số trẻ được cấy một tai là 23/39 trẻ (58,97%). Số trẻ được cấy hai tai là 16/39 trẻ (41,03%). Sau phẫu thuật 1 năm, tất cả trẻ đạt CAP từ 5 điểm trở lên, trong đó 87.18% trẻ đạt CAP từ 6 đến 7 điểm. CAP trung bình sau 1 năm cấy ốc tai điện tử là 6.18 ±0.64. Kết luận: Chúng tôi nghiên cứu 39 trẻ điếc bẩm sinh gồm 20 trẻ nam và 19 trẻ nữ. Độ tuổi phẫu thuật từ 1 đến 13 tuổi). Số trẻ được cấy một tai là 23/39 trẻ (58,97%). Điểm CAP của tất cả trẻ có xu hướng tăng mạnh và về gần bình thường trong vòng 1 năm sau phẫu thuật. Cấy ốc tai điện tử 2 bên cho hiệu quả phục hồi thính giác cao hơn.
Từ khóa
nghe kém, điếc bẩm sinh, ốc tai điện tử, phục hồi thính giác
Tài liệu tham khảo
[2] Quỹ Dân Số Liên Hiệp Quốc-Unfpa Quỹ (2009), “Một số kết quả chủ yếu từ tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009”, Người khuyết tật Việt Nam, 16-17.
[3] G. J. Basura, R. Eapen& C. A. Buchman (2009), “Bilateral cochlear implantation: current concepts, indications, and results”, Laryngoscope, 119.(12) 2395-401.
[4] S. Liu, F. Wang, P. Chen, N. Zuo, C. Wu, J. Ma, J. Huang& C. Wang (2019), “Assessment of outcomes of hearing and speech rehabilitation in children with cochlear implantation”, J Otol, 14.(2) 57-62.
[5] N. Yıldırım Gökay& E. Yücel (2021), “Bilateral cochlear implantation: an assessment of language sub-skills and phoneme recognition in school-aged children”, Eur Arch Otorhinolaryngol, 278.(6) 2093-2100.
[6] Q. Guo, J. Lyu, Y. Kong, T. Xu, R. Dong, B. Qi, S. Wang& X. Chen (2020), “The development of auditory performance and speech perception in CI children after long-period follow up”, Am J Otolaryngol, 41.(4) 102466.
[7] S. J. Dettman, R. C. Dowell, D. Choo, W. Arnott, Y. Abrahams, A. Davis, D. Dornan, J. Leigh, G. Constantinescu, R. Cowan& R. J. Briggs (2016), “Long-term Communication Outcomes for Children Receiving Cochlear Implants Younger Than 12 Months: A Multicenter Study”, Otol Neurotol, 37.(2) e82-95.
[8] M. Y. Kwak, J. Y. Lee, Y. Kim, J. W. Seo, J. Y. Lee, W. S. Kang, J. H. Ahn, J. W. Chung& H. J. Park (2020), “Long-term Change in the Speech Perception Ability in Pediatric Cochlear Implants and the Effect of the Age at Implantation”, Otol Neurotol, 41.(6) 758-766.
[9] H. Y. Fang, H. C. Ko, N. M. Wang, T. J. Fang, W. C. Chao, Y. T. Tsou& C. M. Wu (2014), “Auditory performance and speech intelligibility of Mandarin-speaking children implanted before age 5”, Int J Pediatr Otorhinolaryngol, 78.(5) 799-803.































