KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VI PHẪU THUẬT U NANG THƯỢNG BÌ VÙNG GÓC CẦU TIỂU NÃO
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học và các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị phẫu thuật của u nang thượng bì (UNTB) vùng góc cầu tiểu não (GCTN). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 34 trường hợp UNTB vùng GCTN được chẩn đoán và điều trị vi phẫu thuật tại khoa Ngoại Thần Kinh – bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 02/2018 – 02/2021. Kết quả nghiên cứu: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 41,1 ± 8,7, nam/nữ xấp xỉ 0,4/1. Triệu chứng nhập viện thường gặp nhất là đau đầu (29,4%), dây V (26,5%) và ù tai (20,6%). Lấy toàn bộ u đạt 41,2%. Sau 6 tháng sau mổ, triệu chứng cải thiện nhiều nhất là yếu nửa người (100%), co giật mặt (75%) và rối loạn dây V (72,2%). Khiếm khuyết thần kinh mới tại thời điểm 6 tháng là 14,7%, trong đó hội chứng tiểu não (HCTN) chiếm 5,9%, liệt dây VI, dây VII và dây VIII mỗi trường hợp tương đương 2,9%. Biến chứng sau mổ đều dưới 10%, dập – xuất huyết tiểu não chiếm tỷ lệ cao nhất là 8,8%. Kết luận: UNTB vùng GCTN với biểu hiện lâm sàng đa dạng. Vi phẫu thuật lấy toàn bộ u là điều trị lý tưởng nhất giúp tăng tỷ lệ cải thiện triệu chứng. Tuy nhiên, u dính chặt các cấu trúc quan trọng xung quanh có thể chủ động chừa lại phần dính này nhằm bảo tồn chức năng sau mổ.
Từ khóa
U nang thượng bì, góc cầu tiểu não
Tài liệu tham khảo
2. Czernicki T, Kunert P, Nowak A, Wojciechowski J, et al (2016), “Epidermoid cysts of the cerebellopontine angle: Clinical features and treatment outcomes”, Neurol Neurochir Pol, 50 (2), pp. 75-82.
3. Farhoud A, Khedr W, Aboul-Enein H (2018), “Surgical Resection of Cerebellopontine Epidermoid Cysts: Limitations and Outcome”, Journal of neurological surgery Part B, Skull base, 79 (2), pp. 167-172.
4. Kato K, Ujiie H, Higa T, Hayashi M, et al (2010), “Clinical presentation of intracranial epidermoids: a surgical series of 20 initial and four recurred cases”, Asian journal of neurosurgery, 5 (1), pp. 32-40.
5. Kobata H, Kondo A, Iwasaki K (2002), “Cerebellopontine angle epidermoids presenting with cranial nerve hyperactive dysfunction: pathogenesis and long-term surgical results in 30 patients”, Neurosurgery, 50 (2), pp. 276-285; discussion 285-276.
6. Liu P, Saida Y, Yoshioka H, Itai Y (2003), “MR imaging of epidermoids at the cerebellopontine angle”, Magn Reson Med Sci, 2 (3), pp. 109-115.
7. Revuelta-Gutiérrez R, Díaz-Romero Paz R F, Vales-Hidalgo L O, Hinojosa-González R, et al (2009), “Cerebellopontine angle epidermoid cysts. Experience of 43 cases with long-term follow-up”, Cir Cir, 77 (4), pp. 257-265; 241-258.
8. Singh R, Prasad R S, Singh A (2020), “Evaluation of Cerebellopontine Angle Epidermoid Presenting with Cranial Nerve Deficit: A Surgical Perspective”, Asian J Neurosurg, 15 (3), pp. 573-578.
9. Yoneoka Y, Seki Y, Akiyama K, Sakurai Y, et al (2021), Prolonged Postoperative Pyrexia and Transient Nonnephrogenic Vasopressin-Analogue-Resistant Polyuria following Endoscopic Transsphenoidal Resection of an Infundibular Epidermoid Cyst, Hindawi, pp. 6690372.






























