Cây Kim Vàng – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi

132
Cây Kim Vàng
Cây Kim Vàng
Đánh giá

Những cây thuốc và vị thuốc Việt NamĐỗ Tất Lợi

Cây Kim Vàng trang 576 tải bản PDF tại đây.

Còn có tên là Gai kim vàng, Trâm vàng. 

Tên khoa học Barleria lupulina Lindl. 

Thuộc họ Ô rô Acanthaceae.

Mô tả cây

Cây nhỏ mọc đứng. Nhánh vuông, không lỏng lá. Lá nguyên không lông, lá kèm biến thành gai thẳng nhọn. Cụm hoa bóng ở ngọn. các lá bắc kết hợp cao 2cm. Cảnh hoa mềm, màu vàng nhạt. Mỗi bông thường có 18-20 hoa nhưng thường không nở hoa một lúc. Mỗi ngày chi nở hai hoa. Sau 7 ngày mới nở hết một bông hoa. Quả nang có hạt dẹt, hạt được bao bọc bởi một vỏ cứng. Khi quả chín khô, nổ tách bắn hạt ra xa.

Cây Kim Vàng
Cây Kim Vàng

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây kim vàng mọc hoang dại ở các tỉnh phía Nam nước ta, được nhiều nhà trống làm cảnh hoặc trong chậu, hoặc thành hàng rào vì có gai nhọn, có người ta cây thành hình cấu, có nhiều hoa đẹp hơn. Gần đây nhiều người đã trồng để lấy lá dùng chữa rắn độc cắn. Thường chỉ thu hoạch lấy lá tươi dùng ngay. Chưa thấy mấy người dùng lá khô.

Còn mọc hoang và được trong ở Ấn Độ, Miến Điện, Indonêxia.

Thành phần hoá học

Chưa thấy tài liệu nghiên cứu. Ném hoa có vị ngọt, lá có vị đắng.

Công dụng và liều dùng

Công dụng phổ biến nhất của cây kim vàng là dùng chữa vết rắn độc cắn: Hái một nắm lá tươi (ước 20-35g) giã nát vắt, lấy nước cốt cho nạn nhân uống sống, bã dùng đắp lên nơi rắn cần. Cứ 30 phút cho uống một lần. Có người phối hợp lá kim vàng với phèn chua như sau: Trước hết hút nọc rắn bằng dùng một ống nhựa. hay ống trúc đặt vào vết rắn cắn rồi dùng miệng hút. Hút một vài lần để lấy tối đa nọc độc. Sau đó đúng 30g lá kim vàng tươi, thêm 5g phèn chua, cùng giã. Thêm ít nước vào. Vắt lấy nước cho uống. Nếu nạn nhân răng cắn chặt thì cậy miệng cho uống thuốc. Bã lá và phèn chua thì đắp lên vết rắn cắn.

Ngoài công dụng chữa rắn cắn, nước giã ép tươi còn được dùng chữa chân nứt, nẻ. Còn dùng chữa ho sốt đối với trẻ em.

Ngày viết:
Giáo sư – Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi sinh ngày 2 tháng 1 năm 1919 tại xã Phú Minh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội và mất ngày 3 tháng 2 năm 2008. Ông là một nhà nghiên cứu dược học nổi tiếng và là “cây đại thụ” của nền y học cổ truyền Việt Nam.
LEAVE A REPLY
Please enter your comment!