CHẤT LƯỢNG VẬN ĐỘNG SAU PHẪU THUẬT THAY KHỚP HÁNG: HÀNH TRÌNH PHỤC HỒI NHÌN TỪ THỰC HÀNH LÂM SÀNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HÀ ĐÔNG NĂM 2025
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá kết quả chăm sóc phục hồi chức năng (PHCN) vận động của người bệnh sau phẫu thuật thay khớp háng và phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu cắt ngang trên 113 bệnh nhân sau phẫu thuật thay khớp háng (nhân tạo bán phần hoặc toàn phần) tại khoa ngoại chấn thương chỉnh hình Bệnh viện Đa khoa Hà Đông từ tháng 01/2025 đến 12/2025. Kết quả: Bệnh nhân có tuổi trung bình 72,4 ± 8,5, phần lớn trên 60 tuổi (84,9%) và nữ chiếm 62,8%. Hầu hết phẫu thuật do gãy cổ hoặc liên mấu chuyển xương đùi (90,3%), với 75,2% thay khớp bán phần. Thời gian mổ trung bình 46,6 phút. Điều dưỡng thực hiện tư vấn và chăm sóc xuất sắc, trên 93% bệnh nhân nhận hỗ trợ tinh thần và hướng dẫn tập luyện. Các bài tập phục hồi đạt mức “tốt” trên 85%, đặc biệt gấp duỗi gối (97,3%). Vết mổ khô ở 96,4% khi ra viện, tỷ lệ nhiễm khuẩn thấp (2,7%). Kiểm soát đau hiệu quả, không có đau nặng, 67,2% còn đau nhẹ. Sau 1 tháng, 46% bệnh nhân phục hồi chức năng tốt/rất tốt theo Harris, trong khi 54% trung bình/kém. Tuổi > 60, bệnh mạn tính và thay toàn phần làm tăng nguy cơ phục hồi kém, còn giới tính và thời gian mổ không ảnh hưởng đáng kể. Kết luận: Chăm sóc PHCN vận động sau thay khớp háng tại bệnh viện đã giúp phần lớn người bệnh phục hồi chức năng cơ bản sau 1 tháng. Cần chú trọng hơn đến nhóm bệnh nhân cao tuổi, có bệnh lý kèm theo và phẫu thuật thay khớp toàn phần do quá trình phục hồi và liền xương của nhóm này tiến triển chậm hơn.
Từ khóa
Phẫu thuật thay khớp háng, phục hồi chức năng
Tài liệu tham khảo
2. The ICM-VTE Hip & Knee Delegates, “Recommendations from the ICM-VTE: Hip & Knee”, J. Bone Jt. Surg., vol 104, số p.h Suppl 1, tr 180–231, tháng 3 2022, doi: 10.2106/JBJS.21.01529.
3. Nguyễn Thị Huyền, “Kết quả chăm sóc người bệnh sau mổ thay khớp háng nhân tạo và một số yếu tố liên quan tại Khoa Phẫu thuật Chi dưới, Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức”, Luận văn Thạc sĩ Điều dưỡng, Trường Đại học Thăng Long, 2021.
4. Cao Tấn Sáu và Nguyễn Thành Tấn, “Đánh giá kết quả phẫu thuật thay khớp háng bán phần điều trị gãy không vững liên mấu chuyển xương đùi ở bệnh nhân cao tuổi tại Bệnh viện đa khoa Cà Mau”, Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, vol 64, tr 145–152, 2023.
5. Mellner C, Eisler T, Knutsson B, và Mukka S, “Early periprosthetic joint infection and debridement, antibiotics and implant retention in arthroplasty for femoral neck fracture”, Hip International, vol 27, tr 349–353, 2017.
6. Mai Đắc Việt và Nguyễn Thu Thủy, “Đánh giá kết quả thay khớp háng toàn phần không xi măng ở bệnh nhân hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi giai đoạn IV, V và VI”, Tạp chí Y học cộng đồng, vol 61, tr 1–7, 2021.
7. Nguyễn Thị Lệ Mỹ, “Nghiên cứu hiệu quả giảm đau đường ngoài màng cứng do bệnh nhân tự điều khiển bằng ropivacain hoặc bupivacain phối hợp fentanyl sau phẫu thuật thay khớp háng ở người cao tuổi”, Luận án tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2021.
8. Nguyễn Văn Khanh, “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, nguyên nhân và đánh giá kết quả điều trị gãy cổ xương đùi bằng thay khớp háng bán phần tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ (2018–2019)”, Luận án chuyên khoa II, Đại học Y Dược Cần Thơ, 2019.
9. Nguyễn Thị Thủy, “Đánh giá kết quả công tác chăm sóc điều dưỡng và luyện tập phục hồi chức năng sau phẫu thuật thay khớp háng toàn phần tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108”, Tạp chí Y học cộng đồng, vol 2, tr 23–30, 2020.
10. Đào Tiến Thịnh, “Thực trạng tập vận động của người bệnh sau mổ kết hợp xương chi dưới tại Khoa Chấn thương Chỉnh hình, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2021”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Y Dược (Thái Nguyên), vol 2, tr 327–336, 2023.































