ĐÁNH GIÁ TÍNH KHẢ THI CỦA ĐẶT NỘI KHÍ QUẢN QUA ỐNG NỘI SOI MỀM CÓ AN THẦN TỈNH VÀ OXY HÓA TRƯỚC BẰNG OXY LƯU LƯỢNG CAO Ở NGƯỜI BỆNH ÁP XE VÙNG HÀM MẶT

22
Đánh giá

ĐÁNH GIÁ TÍNH KHẢ THI CỦA ĐẶT NỘI KHÍ QUẢN QUA ỐNG NỘI SOI MỀM CÓ AN THẦN TỈNH VÀ OXY HÓA TRƯỚC BẰNG OXY LƯU LƯỢNG CAO Ở NGƯỜI BỆNH ÁP XE VÙNG HÀM MẶT

Nguyễn Quang Bình1, Nguyễn Ngọc Thạch2, Vũ Doãn Tú1, Vũ Thị Thanh Nga3, Nguyễn Văn Luân2,

1 Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội
2 Học viện Quân y
3 Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá tính khả thi của đặt nội khí quản (NKQ) đường mũi qua ống nội soi mềm (NSM) có an thần tỉnh (conscious sedation) với propofol truyền kiểm soát nồng độ đích (TCI – propofol) và oxy hóa trước (pre-oxygenation) bằng oxy mũi lưu lượng cao (HFNO) ở người bệnh áp xe vùng hàm mặt. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, can thiệp lâm sàng ngẫu nghiên có đối chứng trên 64 người bệnh phẫu thuật áp xe vùng hàm mặt có khít hàm và tổn thương đường hô hấp trên, thời gian từ 11/2023 – 10/2024 tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt trung ương Hà Nội. So sánh 2 nhóm đặt NKQ đường mũi qua ống NSM có oxy hóa trước: Nhóm 1 (n = 32) oxy hóa trước bằng HFNO, an thần tỉnh với TCI – propofol, gây tê bề mặt đường hô hấp trên; nhóm 2 (n = 32) oxy hóa trước bằng oxy mũi lưu lượng thấp (LFNO), gây tê bề mặt đường hô hấp trên. Các tiêu chí chính: Điều kiện đặt NKQ (rất tốt, tốt, trung bình, kém), thời gian đặt NKQ; chỉ số SpO2 ngay sau đặt NKQ. Kết quả: Điều kiện đặt NKQ đạt tốt và rất tốt (90,7%) cao hơn (p<0,05), thời gian đặt NKQ (98,50±15,96 giây) ngắn hơn (p<0,05) nhóm 2 (65,6% và 114,09±20,64 giây); chỉ số SpO2 ngay sau đặt NKQ giảm dưới 95% gặp ở nhóm 2 (6,25%) mà không gặp ở nhóm 1. Kết luận: Oxy hóa trước bằng HFNO, an thần tỉnh TCI – propofol giúp đặt NKQ đường mũi qua ống NSM thành công mà không gặp mất bão hòa oxy máu ở người bệnh phẫu thuật áp xe vùng hàm mặt có khít hàm và tổn thương đường hô hấp trên.

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Quang Bình, Vũ Doãn Tú và cộng sự. Đánh giá hiệu quả đặt nội khí quản khó bằng đèn soi mềm (Fibroscope) có dùng an thần tỉnh ở bệnh nhân áp xe vùng hàm mặt khít hàm. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024; tập 545, số 2.
2. Vytla S., Gebauer D. Clinical guideline for the management of odontogenic infections in the tertiary setting. 2017; 62(4): 464-470.
3. Ahmad I., El‐Boghdadly K., Bhagrath R. et al. Difficult Airway Society guidelines for awake tracheal intubation (ATI) in adults. 2020; 75(4): 509-528.
4. Badiger S., John M., Fearnley R. et al. Optimizing oxygenation and intubation conditions during awake fibre-optic intubation using a high-flow nasal oxygen-delivery system. BJA: British Journal of Anaesthesia.2015; 115(4), 629-632.
5. Sethi, N., Tarneja V., Madhusudanan T. et al. Local anaesthesia for fiberoptic intubation. Medical Journal Armed Forces India. 2005; 61(1), 22-25.
6. Roshan M., Shital N. et al. Awake fiberoptic intubation in patients of deep neck infections”, International Journal of Medical Science and Public Health. 2016; 5(12).
7. Tsai C., Chu K., Chen T. et al. A comparison of the effectiveness of dexmedetomidine versus propofol target‐controlled infusion for sedation during fibreoptic nasotracheal intubation. 2010; 65(3): 254-259.
8. Wu Y., Li C., Huang S. et al. A comparison of oxygenation efficacy between high-flow nasal cannulas and standard facemasks during elective tracheal intubation for patients with obesity. 2022; 11(6): 1700.
9. Mahran E, Hassan M. et al. Comparative randomised study of video laryngoscope versus flexible fibre-optic bronchoscope for awake nasal intubation of oropharyngeal cancer patients”. Indian J Anaesth. 2016; 60(12):936-938.

LEAVE A REPLY
Please enter your comment!