TÌNH HÌNH NHIỄM VÀ ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA PSEUDOMONAS AERUGINOSA Ở BỆNH NHÂN NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP DƯỚI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ NĂM 2024-2025

20
Đánh giá

TÌNH HÌNH NHIỄM VÀ ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA PSEUDOMONAS AERUGINOSA Ở BỆNH NHÂN NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP DƯỚI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ NĂM 2024-2025

Sơn Si Mel1,2, Võ Phạm Minh Thư1, Trương Thị Diệu3

1 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
2 Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sóc Trăng
3 Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Theo dữ liệu trên thế giới cũng như tại Việt Nam, Pseudomonas aeruginosa là tác nhân có tỷ lệ đề kháng kháng sinh cao, gây ra nhiều biến chứng trong các bệnh lý nhiễm trùng, trong đó có NKĐHHD. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ nhiễm Pseudomonas aeruginosa ở bệnh nhân NKĐHHD. Xác định tỷ lệ đề kháng các loại kháng sinh thường dùng ở bệnh nhân NKĐHHD do Pseudomonas aeruginosa. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 146 bệnh nhân NKĐHHD điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ tháng 09 năm 2024 đến tháng 03 năm 2025. Kết quả: Về đặc điểm chung, tỷ lệ nam/nữ=1,75, phần lớn từ 60 tuổi trở lên (75,3%). Tỷ lệ hút thuốc lá tương đối cao, chiếm 58,2%. Bệnh nền thường gặp là tăng huyết áp 79,8%, đái tháo đường 38,4%. Có 15,8% bệnh nhân vừa điều trị corticoid 2 tuần trước đó và 54,8% có sử dụng kháng sinh 14 ngày trước. Tỷ lệ nhiễm P. aeruginosa là 15,8%. Tỷ lệ đề kháng kháng sinh cao ở các đối tượng nhiễm P. aeruginosa, kháng cephalosorin như ceftazidime là 47,8%, cefepime là 65,2%. Tỷ lệ kháng Quinolon gồm levofloxacin là 73,9%, kháng ciprofloxacin là 65,2%. Trong nhóm carbanpenem, tỷ lệ kháng imipenem và meropenem cùng là 60,9%. Kết luận: Pseudomonas aeruginosa là tác nhân thường gặp trong NKĐHHD. Tỷ lệ đề kháng các loại kháng sinh như cephalosporin, quinolon và carbepenem ở những bệnh nhân NKĐHHD do tác nhân này khá cao.

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Văn An, Nguyễn Văn Đức, Phạm Thị Loan và cộng sự (2024), “Thực trạng kháng kháng sinh của các chủng Pseudomonas aeruginosa phân lập tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh năm 2023”, Tạp Chí Y học Việt Nam, 542 (1), 235-239.
2. Nguyễn Văn An, Nguyễn Thị Hồng Ngọc (2024), “Đặc điểm kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa phân lập tại các khoa nội, Bệnh viện Quân Y 103”, Tạp Chí Y học Việt Nam, 542 (2), 330-333.
3. Bộ Y tế (2020), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị viêm phổi mắc phải cộng đồng ở người lớn, Quyết định số 4815/QĐ-BYT ngày 20 tháng 11 năm 2020.
4. Lê Hạ Long Hải, Nguyễn Văn An (2025), “Kiểu hình kháng kháng sinh của vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa phân lập từ mẫu bệnh phẩm đờm ở người bệnh tại Bệnh viện Quân y 103 năm 2022”, Tạp Chí Y học Việt Nam, 546 (2), 123-127.
5. Châu Ngọc Hoa (2012), Triệu chứng học nội khoa, Nhà xuất bản Y học, Bộ Y tế, 28-75.
6. Lê Văn Lâm, Võ Thị Hoa, Nguyễn Thị Ngọc Thùy và cộng sự (2024), “Khảo sát thực trạng viêm phổi bệnh viện và sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi bệnh viện tại Bệnh viện Thống Nhất”, Tạp chí Y học Cộng đồng, 65 (CĐ10), 62-70.
7. Nguyễn Hoàng Nam, Đặng Quốc Tuấn, Bùi Văn Cường (2025), “Tình hình nhạy cảm kháng sinh của các chủng P.aeruginosa gây viêm phổi tại Trung tâm Hồi sức tích cực Bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 2024”, Tạp Chí Y học Việt Nam, 547 (2), 83-87.
8. Lưu Thị Nga, Lê Văn Hưng, Vũ Huy Lượng và cộng sự (2024), “Tình hình kháng kháng sinh của Pseudomonas aeruginosa phân lập được tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải Phòng năm 2022”, Tạp Chí Y học Việt Nam, 537 (1), 137-141.
9. Phan Thị Hoài Trân, Nguyễn Thị Hải Yến, Nguyễn Thị Diệu Hiền (2023), “Nghiên cứu sự đề kháng kháng sinh của Pseudomonas aeruginosa phân lập được tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ”, Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, 40, 75-81.
10. Nguyễn Hữu Ngọc Tuấn, Lê Thị Thu Ngân, Nguyễn Minh Hà (2024), “Đặc điểm phân bố và tính kháng kháng sinh của Pseudomonas aeruginosa tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương giai đoạn 2020 – 2023”, Tạp Chí Y học Việt Nam, 536 (1B), 359-363.

LEAVE A REPLY
Please enter your comment!