NGHIÊN CỨU DỊCH TỄ HỌC, TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG VÀ X QUANG Ở BỆNH NHÂN GÃY XƯƠNG HÀM DƯỚI TẠI BỆNH VIỆN RĂNG HÀM MẶT TRUNG ƯƠNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

24
Đánh giá

NGHIÊN CỨU DỊCH TỄ HỌC, TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG VÀ X QUANG Ở BỆNH NHÂN GÃY XƯƠNG HÀM DƯỚI TẠI BỆNH VIỆN RĂNG HÀM MẶT TRUNG ƯƠNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Lê Trung Chánh1,2, Nguyễn Văn Tuấn1,2, Vũ Văn Đình1, Lê Hoài Phúc1,2,

1 Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
2 Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương TP.HCM

Tóm tắt

Mở đầu: Gãy xương hàm dưới (XHD) là chấn thương hàm mặt thường gặp, ảnh hưởng đến chức năng ăn nhai và thẩm mỹ. Việc mô tả đặc điểm lâm sàng và X quang trước điều trị giúp chẩn đoán và điều trị hiệu quả. Mục tiêu: Mô tả dịch tễ học, đặc điểm lâm sàng, X quang ở bệnh nhân (BN) gãy XHD tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương TP.HCM. Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 82 BN gãy XHD từ tháng 4/2025 đến tháng 5/2025 tại bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương TP.HCM. Các biến số dịch tễ học, triệu chứng lâm sàng và hình ảnh X quang được ghi nhận trước phẫu thuật. Kết quả: Gãy XHD thường gặp ở nam giới (69,52%) trong độ tuổi 18-39 (51,22%), chủ yếu do tai nạn giao thông (93,9%). Các triệu chứng lâm sàng thường gặp: há miệng hạn chế (100%), sai khớp cắn (96,34%), gián đoạn bờ xương (70,73%). Hình ảnh X quang ghi nhận gãy XHD hoàn toàn (96,86%), với di lệch nhiều (89,31%), thường gặp tại vùng cằm (36,48%) và lồi cầu (31,45%), với đa sô gãy nhiều đường (65,85%). Gãy XHD vùng góc hàm có 66,67% liên quan đến răng khôn. Kết luận: Gãy XHD thường gặp ở nam giới, nhóm trưởng thành, chủ yếu do tai nạn giao thông. Các triệu chứng lâm sàng phổ biến gồm đau, sai khớp cắn và há miệng hạn chế. Các vị trí gãy thường gặp là vùng cằm và lồi cầu. Răng khôn có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê với gãy XHD vùng góc hàm.

Tài liệu tham khảo

1. Chiến Tô Sĩ, Nam Nguyễn Hoàng, Minh Nguyễn Đức và cộng sự. “Đặc điểm lâm sàng, X-quang và kết quả phẫu thuật điều trị gãy xương hàm dưới vùng cằm bằng nẹp vít nhỏ tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Y học Việt Nam, 540 (3), (2024).
2. Hoa Trần Kiều, Tân Lâm Nhựt, Dân Tô Tuấn và cộng sự. “Đặc điểm gãy xương hàm dưới ở một số bệnh nhân tại thành phố Cần Thơ,năm 2023-2024”, Tạp chí Y học Việt Nam, 539 (1B), (2024).
3. Lợi Nguyễn Hồng, Châu Hoàng Lê Trọng. “Đặc điểm gãy xương hàm dưới do tai nạn giao thông”, Tạp chí Y học Việt Nam, 526 (2), (2023).
4. Sáu Phạm Văn Bé, Khuê Trương Nhựt, Khanh Hồng Quốc. “Đặc điểm lâm sàng, X quang và kết quả điều trị kết hợp xương bằng nẹp vít nhỏ ở bệnh nhân gãy xương hàm dưới vùng góc hàm tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt thành phố Hồ Chí Minh năm 2023-2024”, Tạp chí Y học Việt Nam, 542 (1), (2024).
5. Trung Nguyễn Quốc, Hà Nguyễn Hồng, Hùng Đặng Triệu. “Đặc điểm lâm sàng, phim cắt lớp vi tính của bệnh nhân gãy xương hàm dưới tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 2018-2023”, Tạp chí Y học Việt Nam, 531 (2), (2023).
6. Michalik Weronika, Toppich Julia, Łuksza Adam et al. “Exploring the correlation of epidemiological and clinical factors with facial injury severity scores in maxillofacial trauma: a comprehensive analysis”, Frontiers in Oral Health, 6, (2025), 1532133.
7. Vignesh U, Kanna VE Shanthosh, Kharmawlong Reading Well. “A Retrospective Analysis of Epidemiology and Pattern of Mandibular Fractures in Eastern Part of Uttar Pradesh, India”, International Journal of Current Pharmaceutical Review and Research, 17 (3), (2025), 203-210.
8. Cheema Musa, Irshad Khadija, Musarrat Maniha et al. “Epidemiological pattern of mandibular fractures in Islamabad”, Journal of Population Therapeutics & Clinical Pharmacology, 31 (6), (2024), 139-145.

LEAVE A REPLY
Please enter your comment!