NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ DELAYED PHASE CT TRONG ĐÁNH GIÁ NỐT ĐƠN ĐỘC Ở PHỔI

16
Đánh giá

NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ DELAYED PHASE CT TRONG ĐÁNH GIÁ NỐT ĐƠN ĐỘC Ở PHỔI

Hoàng Văn Lương1, Nguyễn Văn Sang2,

1 Bệnh viện Phổi Trung ương
2 Đại học – Y Dược Thái Nguyên

Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định đặc điểm hình ảnh cũng như các dấu hiệu gợi ý ác tính của nốt phổi đơn độc và giá trị cắt lớp vi tính ngực pha muộn trong chẩn đoán bản chất nốt đơn độc ở phổi. Đối tượng và phương pháp: 125 bệnh nhân khám và điều trị tại Bệnh viện Phổi Trung ương từ 11/2019 đến 12/2021 có kết quả chẩn đoán nốt phổi đơn độc trên phim cắt lớp vi tính ngực và có kết quả giải phẫu bệnh (sau sinh thiết tổn thương xuyên thành ngực và/hoặc sau phẫu thuật). Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang. Kết quả: Nốt phổi đơn độc có tỷ lệ lành tính là 51,5% và ác tính là 48,5%. Tuổi mắc bệnh trung bình 53.5 ± 1.4 tuổi, nhóm tuổi hay gặp nhất là 49 – 69 tuổi. Tỷ lệ nam/nữ ~ 2.3:1. Nốt phổi hình bầu dục 72%, hình tròn 20%, hình đa cung 1.6% và vô định hình 6.4%. Những nốt tròn có tỷ lệ lành tính cao (72%) và ác tính thấp (28%) trong khi những nốt bầu dục, nốt đa cung hoặc vô định hình thì tỷ lệ ác tính là chủ yếu với tỷ lệ lần lượt là 52.2%, 100% và 62.5% (p=0,075). Những nốt có bờ đều nhẵn thì 100% lành tính, những nốt có bờ không đều, chia thùy múi, tua gai hoặc kết hợp nhiều đặc điểm thì phần lớn ác tính. Đường kính trung bình là 20.4 ± 5.2mm. Tổn thương đa số tập trung ở ngoại vi và thùy trên, phổi phải nhiều hơn phổi trái với tỷ lệ lần lượt là 55,1% và 44,9% (p<0,0001). Nốt có bóng khí bên trong chiếm 23%, nốt có hang hóa hoặc vôi hóa chiếm 9,8%, nốt có tỷ trọng mỡ, hoại tử hay liềm khí tỷ lệ tương ứng là 3,7%, 4,9% và 5,4%. Nốt ung thư phổi đa số có bờ không đều và tua gai hoặc kết hợp dấu hiệu đuôi màng phổi (72,6%), nốt lành tính thường có bờ đều, nhẵn (90,9%). Với phương pháp Deleyed phase CT, giá trị độ nhạy 92.3%, độ đặc hiệu 94.8%, giá trị dự báo dương tính 96.0%, giá trị dự báo âm tính 90.2% và độ chính xác 93.4%. Với phương pháp Dynamic CT, các giá trị độ nhạy 92,3%, độ đặc hiệu 71,4%, giá trị dự báo dương tính 66,7%; giá trị dự báo âm tính 93,7%, độ chính xác 79,4%. Người bệnh được áp dụng phương pháp cắt lớp vi tính pha động mạch muộn có khả năng phát hiện ung thư cao gấp 1,95 lần so với người bệnh áp dụng phương pháp cắt lớp vi tính động (p>0,05). Kết luận: Nốt đơn độc phổi hay gặp trên lâm sàng và có tỷ lệ ác tính cao (48.5%). Delayed phase CT có vai trò quan trọng trong việc đánh giá chi tiết các đặc điểm hình thái, vị trí, kích thước và ngấm thuốc cản quang của chúng và đưa ra hướng chẩn đoán nguyên nhân phù hợp và cũng có giá trị cao trong chẩn đoán phân biệt một nốt phổi lành hay ác tính.

Tài liệu tham khảo

1. W Richard Webb and B Higgins Charles (2017). Thoracic imaging: Pulmonary and Cardiovascular radiology.
2. H MacMahon, DP Naidich, JM Goo, et al (2017). Guidelines for Management of Incidental Pulmonary Nodules Detected on CT Images: From the Fleischner Society 2017. Radiology 284(1): 228-243.
3. VS Shenoy, S Munakomi, R Sampath, et al (2024). Syringomyelia. [Updated 2024 Mar 14]. In: StatPearls [Internet]. Treasure Island (FL): StatPearls Publishing. Available from: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK5371
4. Shiqi Jin Bo Zhang, Lina Zhang, Shu Li, Songbai Li, Peiling Li (2018). Lung nodules assessment in ultra-low-dose CT with iterative reconstruction compared to conventional dose CT. Quant Imaging Med Surg 8(5): 480-490.
5. Lan Đoàn Thị Phương (2015). Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh và giá trị của sinh thiết xuyên thành ngực dưới hướng dẫn của chụp cắt lớp vi tính trong chẩn đoán các tổn thương dạng u ở phổi. Luận án tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội:
6. Hà Hoàng Thị Ngọc (2022). Nghiên cứu giá trị của CLVT ngực liều thấp trong chẩn đoán các nốt mờ phổi. Luận án tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế.:
7. Minh Nguyễn Công (2011). Đánh giá hiệu quả của chẩn đoán và điều trị ngoại khoa nốt phổi đơn độc qua phẫu thuật nội soi tại bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện cấp cứu Trưng Vương trong năm (2000-2009). Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh 15(1): 452-459.
8. Gao Feng, Li Ming, Sun Yingli, et al (2017). Diagnostic value of contrast-enhanced CT scans in identifying lung adenocarcinomas manifesting as GGNs (ground glass nodules). Medicine (Baltimore) 96(43):
9. ZhiTao Shi, Yanhui Wang and Xueqi He (2016). Differential diagnosis of solitary pulmonary nodules with dual-source spiral computed tomography. Experimental and therapeutic medicine: 1750-1754.

LEAVE A REPLY
Please enter your comment!