NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ HÌNH THÁI NHĨ TRÁI Ở BỆNH NHÂN RUNG NHĨ CÓ CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ BẰNG NĂNG LƯỢNG SÓNG TẦN SỐ RADIO TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103

20
Đánh giá

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ HÌNH THÁI NHĨ TRÁI Ở BỆNH NHÂN RUNG NHĨ CÓ CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ BẰNG NĂNG LƯỢNG SÓNG TẦN SỐ RADIO TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103

Nguyễn Hữu Hồng Chương1, Lường Công Thức1, Nguyễn Duy Toàn1, Nguyễn Văn Luyến1, Phạm Trần Linh2,3,4,

1 Bệnh viện Quân y 103, Học viện Quân Y
2 Bệnh viện Bạch Mai
3 Trường Đại học Y Hà Nội
4 Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc Gia Hà Nội

Tóm tắt

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng và hình thái nhĩ trái (NT) ở bệnh nhân rung nhĩ (RN) có chỉ định điều trị bằng năng lượng sóng tần số radio. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang ở 57 bệnh nhân RN, được điều trị bằng năng lượng sóng tần số radio tại BVQY 103. Kết quả: Triệu chứng chủ yếu của bệnh nhân RN là hồi hộp trống ngực, chiếm tỷ lệ 77,2%; Tăng huyết áp (THA) chiếm tỷ lệ cao nhất trong các yếu tố nguy cơ về tim mạch của bệnh nhân RN với 57,9%; Phần lớn các bệnh nhân có điểm CHA2DS2-VA là từ 2 – 3; Kích thước trung bình đường kính NT trên siêu âm tim là 36,70 ± 5,36 mm, trên CLVT là 38,69 ± 6,95 mm; Đường kính tĩnh mạch phổi trên phải có kích thước lớn nhất trong số 4 tĩnh mạch khổi; Ở nhóm bệnh nhân RN bền bỉ, kích thước nhĩ trái trên siêu âm tim và CLVT đều có xu hướng lớn hơn so với nhóm RN cơn. Kết luận: Triệu chứng chủ yếu của bệnh nhân RN là hồi hộp trống ngực; THA là yếu tố nguy cơ có tỷ lệ cao nhất. Bệnh nhân RN bền bỉ có đường kính nhĩ trái lớn hơn nhóm bệnh nhân RN cơn. Tĩnh mạch phổi trên bên phải có kích thước lớn nhất trong số các tĩnh mạch phổi. Chưa rõ mối tương quan giữa kích thước các tĩnh mạch phổi trên CLVT với các đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân RN.

Tài liệu tham khảo

1. Lippi, G., Sanchis-Gomar, F., and Cervellin, G. (2021), “Global epidemiology of atrial fibrillation: An increasing epidemic and public health challenge”, Int J Stroke. 16(2), pp. 217-221.American Diabetes Association (2016), Diagnosis and Classification of Diabetes Mellitus, Diabetes Care, 31(1), pp. S55-60.
2. Cronin, P., et al. (2007), “Normative analysis of pulmonary vein drainage patterns on multidetector CT with measurements of pulmonary vein ostial diameter and distance to first bifurcation”, Acad Radiol. 14(2), pp. 178 – 88.Trần Đỗ Trinh, Trần Văn Đồng (2011), Hướng dẫn đọc điện tim. Nhà xuất bản y học.
3. Cronin, P., et al. (2009), “Measurements of pulmonary vein ostial diameter and distance to first bifurcation: a comparison of different measurement methods”, Eur J Radiol. 71(1), pp. 61-8.
4. Phạm Trần Linh (2016), Nghiên cứu đặc điểm điện sinh lý tim và kết quả điều trị cơn rung nhĩ kịch phát bằng năng lượng sóng có tần số radio.
5. Mulder, A. A., et al. (2012), “Freedom from paroxysmal atrial fibrillation after successful pulmonary vein isolation with pulmonary vein ablation catheter-phased radiofrequency energy: 2-year follow-up and predictors of failure”, Europace. 14(6), pp. 818-25.
6. Chang, H. Y., et al. (2012), “Long-term outcome of catheter ablation in patients with atrial fibrillation originating from the superior vena cava”, J Cardiovasc Electrophysiol. 23(9), pp. 955-61.
7. Park, Y. M., et al. (2012), “Is pursuit of termination of atrial fibrillation during catheter ablation of great value in patients with longstanding persistent atrial fibrillation?”, J Cardiovasc Electrophysiol. 23(10), pp. 1051-8.
8. Sang, T. S., et al. (2001), “Left atrial volume: important risk marker of incident atrial fibrillation in 1655 older men and women”, Mayo Clin Proc. 76(5), pp. 467-75.
9. Akdur, Pınar Özdemir and Türkvatan, Aysel (2022), “Comparison of pulmonary veins in patients with and without atrial fibrillation using multidedector computed tomographic angiography”, The European Research Journal. 8(5), pp. 650-8.

LEAVE A REPLY
Please enter your comment!