KẾT QUẢ LẤY HUYẾT KHỐI BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO CẤP DO TẮC ĐỘNG MẠCH LỚN TUẦN HOÀN NÃO TRƯỚC CỬA SỔ 6 ĐẾN 24 GIỜ ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN BẰNG CẮT LỚP VI TÍNH

21
Đánh giá

KẾT QUẢ LẤY HUYẾT KHỐI BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO CẤP DO TẮC ĐỘNG MẠCH LỚN TUẦN HOÀN NÃO TRƯỚC CỬA SỔ 6 ĐẾN 24 GIỜ ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN BẰNG CẮT LỚP VI TÍNH

Nguyễn Xuân Quyết1, Nguyễn Anh Tuấn2,3, Đào Việt Phương2,3,4,

1 Bệnh viện Nội tiết Trung ương
2 Bệnh viện Bạch Mai
3 Trường Đại học Y Hà Nội
4 Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc Gia Hà Nội

Tóm tắt

Mục tiêu: Nhồi máu não do tắc mạch lớn tuần hoàn trước là một thể đột quỵ nghiêm trọng với tiên lượng nặng nếu không được tái thông kịp thời. Trong điều kiện hạn chế kỹ thuật, sử dụng cắt lớp vi tính (CLVT) cơ bản để lựa chọn bệnh nhân can thiệp trong khung giờ muộn (6–24 giờ) là giải pháp thực tiễn. Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của can thiệp lấy huyết khối ở nhóm bệnh nhân được tuyển chọn dựa trên CLVT cơ bản. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 66 bệnh án nhồi máu não cấp do tắc động mạch lớn tuần hoàn trước, được can thiệp lấy huyết khối tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 6 – 12/2024. Kết quả nghiên cứu: Tuổi trung bình là 67,4 ± 10,6, đa số sống tại nông thôn. Tắc động mạch não giữa (MCA) đơn thuần (37,9%) hoặc kết hợp với động mạch cảnh trong (ICA) là phổ biến nhất (31,8%). Tỷ lệ tái thông tốt (mTICI ≥ 2b) đạt 84,8%, mTICI3 đạt 53%. Sau 3 tháng, 18,2% bệnh nhân cải thiện lâm sàng tốt (mRS 0 – 2). Tắc MCA có khả năng tái thông tốt cao gấp 6,27 lần so với tắc ICA đoạn trong sọ. Thời gian đến can thiệp càng dài thì tỷ lệ tái thông càng thấp. Tuổi ≥ 60 là yếu tố tiên lượng hồi phục kém hơn sau can thiệp 3 tháng. Kết luận: Lấy huyết khối cơ học trong cửa sổ muộn dựa trên CLVT cơ bản vẫn mang lại hiệu quả tái thông và phục hồi tốt, gợi mở khả năng mở rộng chỉ định tại các tuyến y tế không có điều kiện kỹ thuật cao.

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Quang Anh. Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh học và đánh giá hiệu quả của kỹ thuật lấy huyết khối cơ học ở bệnh nhân nhồi máu não cấp. Đại học Y Hà Nội; 2023.
2. Nguyễn Thị Bích Hường, Quốc Trung Nguyễn, Nguyên Bình Phạm và cộng sự. Điều trị can thiệp nội mạch ở bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp trong cửa sổ 6 giờ đầu và cửa sổ 6-24 giờ bằng quy trình hình ảnh học đơn giản. Journal of 108 – Clinical Medicine and Phamarcy. 2020;15(6):21-27.
3. Vũ Viết Lanh. Nghiên cứu kết quả điều trị đột quỵ nhồi máu não cấp do tắc động mạch lớn trong 6 giờ đầu bằng dụng cụ stent Solitaire. Đại học Y Hà Nội; 2019.
4. Đào Việt Phương, Chi Nguyễn Văn, Lưu Vũ Đăng. Nghiên cứu điều trị tắc động mạch lớn hệ tuần hoàn trước trong vòng 6 giờ đầu bằng thuốc tiêu sợi huyết tĩnh mạch kết hợp với lấy huyết khối cơ học. Trường Đại học Y Hà Nội; 2019.
5. Global, regional, and national burden of stroke and its risk factors, 1990-2019: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2019. The Lancet Neurology. Oct 2021;20(10): 795-820. doi:10.1016/s1474-4422 (21)00252-0
6. C. Carr, Kahn L., Mathkour M. và cộng sự. The shifting burden of neurosurgical disease: Vietnam and the middle-income nations. Neurosurgical focus. Oct 2018;45(4):E12. doi:10.3171/2018.7.Focus18297
7. Thang Huy Nguyen, Gall Seana, Cadilhac Dominique A. và cộng sự. Processes of Stroke Unit Care and Outcomes at Discharge in Vietnam: Findings from the Registry of Stroke Care Quality (RES-Q) in a Major Public Hospital. 2019;2(2): 119-127. doi:10.1177/2516608519869132
8. A. Ragoschke-Schumm, Walter S. DAWN and DEFUSE-3 trials: is time still important? Der Radiologe. Nov 2018;58(Suppl 1):20-23. Die DAWN- und DEFUSE-3-Studie: ist Zeit immer noch wichtig? doi:10.1007/s00117-018-0406-4

LEAVE A REPLY
Please enter your comment!