ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ HỞ THÀNH BỤNG Ở TRẺ SƠ SINH TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1

20
Đánh giá

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ HỞ THÀNH BỤNG Ở TRẺ SƠ SINH TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1

Châu Hồng Thương1, Phạm Thị Thanh Tâm1, Nguyễn Đức Toàn1,2,

1 Bệnh viện Nhi Đồng 1
2 Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Hở thành bụng là một khuyết tật thành bụng bẩm sinh hiếm gặp, do sự phát triển không hoàn thiện dẫn tới một tình trạng khuyết hổng của thành bụng nằm ở một bên của rốn, trong đó ruột, đôi khi là dạ dày và/hoặc gan nhô vào khoang ối, không được bao bọc bởi phúc mạc, các bộ phận của đường tiêu hoá tiếp xúc thường xuyên với nước ối có thể bị phù nề, viêm và tổn thương lớp thanh mạc – cơ[3][5]. Trên thế giới, một nghiên cứu quan trọng được đăng trên tạp chí Phẫu thuật Nhi khoa năm 2023 đã báo cáo tỷ lệ mắc bệnh hở thành bụng trên thế giới là 3,3 trên 10.000 ca sinh sống[4]. Tại Việt Nam, những số liệu về hở thành bụng không nhiều. Trong bối cảnh tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 hiện nay, khả năng chẩn đoán tình trạng này sớm trong thai kỳ đã được cải thiện; bên cạnh đó, những cải tiến trong kỹ thuật phẫu thuật; và những tiến bộ trong hỗ trợ dinh dưỡng làm cho kết quả điều trị có thể đã thay đổi nhiều theo thời gian. Ở đây, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mô tả các đặc điểm của hở thành bụng ở trẻ sơ sinh. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ phần trăm các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị hở thành bụng ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Phương pháp: Mô tả loạt ca từ 01/01/2020 đến 30/06/2025 tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Kết quả: Có 61 trường hợp hở thành bụng ở trẻ sơ sinh trong thời gian nghiên cứu. Tỷ lệ nam/nữ là 1,1/1, tuổi thai có trung vị 36,0 tuần (35,0 – 37,0 tuần), cân nặng lúc sinh có trung vị 2140g (1900 – 2400 g), sinh mổ chiếm 50,8%, tỷ lệ chẩn đoán tiền sản là 85,2%, tuổi mẹ có trung vị 21,0 tuổi (19,0 – 24,0 tuổi) và 18% trường hợp chuyển từ bệnh viện tỉnh. Phân độ tổn thương ruột trong hở thành bụng ở trẻ sơ sinh như sau: độ I (86,9%), độ II (9,9%), độ III (3,3%). Các chẩn đoán bệnh lý kèm theo thường gặp bao gồm dị tật tim bẩm sinh (1,7%), teo ruột non (1,7%). Về đặc điểm lâm sàng lúc nhập viện và an toàn chuyển viện gồm suy hô hấp (77,0%), sốc (14,6%), hạ thân nhiệt (85,2%), bọc túi plastic vô khuẩn (50,8%), đắp gạc ẩm vô khuẩn (42,6%), không bù dịch (70,5%). Về phẫu thuật, thời gian đặt túi silo trung vị 5,0 ngày (4,0 – 5,0 ngày), đặt túi silo và không được mổ chiếm 3,3%. Về đặc điểm lâm sàng và biến chứng sau mổ: sốc (33,9%), nhiễm trùng vết mổ (22,0%), viêm phổi (10,2%), tắc ruột (10,2%), viêm ruột hoại tử (10,2%), hội chứng ruột ngắn (3,4%), thời gian thở máy hậu phẫu trung vị 4,0 ngày (3,0 – 5,0 ngày), thời gian bắt đầu nuôi ăn tiêu hoá (từ ngày hậu phẫu) là 7,0 ngày (6,0 – 10,0 ngày), thời gian nuôi ăn tiêu hoá hoàn toàn (từ ngày hậu phẫu) là 15,0 ngày (10,0 – 18,5 ngày), thời gian nuôi ăn tĩnh mạch 18,5 ngày (15,0 – 25,0 ngày). Thời gian nằm viện trung vị 30,0 ngày  (23,0 – 40,0 ngày), tỷ lệ tử vong là 3,3%, nguyên nhân tử vong là bệnh màng trong (1,7%), nhiễm trùng huyết (1,7%). Kết luận: Phân độ thường gặp nhất trong hở thành bụng ở trẻ sơ sinh là độ I (86,9%). Các chẩn đoán bệnh lý kèm theo thường gặp bao gồm bất thường tim bẩm sinh (1,7%), teo ruột non (1,7%). Tỷ lệ tử vong là 3,3%. Cần có chiến lược chẩn đoán và điều trị phù hợp để giảm tỷ lệ tử vong trong hở thành bụng ở trẻ sơ sinh.

Tài liệu tham khảo

1. Bùi Thị Thuỳ Tâm, Võ Tường Văn, Nguyễn Quỳnh Trâm (2016), Đặc điểm các trường hợp hở thành bụng bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 2009 – 2013, Y Học TP Hồ Chí Minh, 20 (4).
2. Hồ Tấn Thanh Bình (2007), Các đặc điểm trong hồi sức nội khoa hở thành bụng bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 5/2006 – tháng 3/2007, Hội nghị nhi khoa bệnh viện Nhi Đồng 1, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.
3. Aktoz F, Ozyuncu O, Tanacan A, et al. (2019), “Gestational outcomes of pregnancies with prenatally detected gastroschisis and omphalocele”, Fetal Pediatr Pathol, 38(4), 282–289.
4. Baker, M., Smith, J., and R. ones. (2023), “Global Incidence of Gastroschisis: A Comprehensive Review.” Journal of Pediatric Surgery, 58(4), 701-710.
5. Prefumo F., Izzi C.(2014), “Fetal abdominal wall defects”, Best Practice & Research Clinical Obstetrics & Gynaecology, 28, 391.
6. S Gom, A Grieve, S Velaphi (2019), “Characteristics and outcomes of neonates with gastroschisis managed in a public tertiary hospital in a developing country”, South African Journal of Child Health, 13(4), 168-173.

LEAVE A REPLY
Please enter your comment!